TÌNH YÊU ĐÁP TRẢ TÌNH YÊU

Thầy kính mến!

Có một loại thuốc mà trong danh sách của ngành y không có.  Đó là “tình yêu”.  Tình yêu là liều thuốc công hiệu nhất để xoa dịu cho một tâm hồn đang nhói đau; Tình yêu là chất bôi trơn nối kết người với người; và thật tuyệt vời bởi vì khi có tình yêu thì có thể tha thứ tất cả.  Tình yêu luôn luôn cho đi tất cả; chịu đựng tất cả; hy sinh tất cả; và yêu mến tất cả…

Thầy ơi! Tình yêu đẹp đến kỳ lạ quá, câu chữ của con không thể diễn tả hết được.  Tình yêu là cho đi mà không chờ sự đáp trả.  Tình yêu là dâng hiến mà chẳng toan tính thiệt hơn.  Con xin tạ ơn Thầy vì Thầy đã yêu và dạy con yêu.

 Có phải vì tình yêu mà Thầy đã quên đi cả thân phận là Thiên Chúa Ngôi Hai?
Có phải vì tình yêu mà Thầy chẳng ngần ngại khi trở nên giống như con người của con?
Có phải vì yêu mà Thầy đã chết một cái chết tủi nhục vì tội lỗi của con đây?
Phải chăng vì tình yêu mà Thầy đã kêu xin Chúa Cha tha tội cho chúng con ngay cả khi con người chúng con đã treo Thầy lên cây Thập tự – đau xót, tủi nhục và cô đơn?

Nhưng…

ZZCon thấy thật hổ ngươi bởi vì con vẫn chưa dừng lại ở đó, hằng ngày con vẫn quất thêm những chiếc roi vào thân thể của Thầy; vẫn đóng thêm những chiếc đinh treo Thầy lên; và vẫn đâm những lưỡi đòng vào trái tim yêu thương của Thầy mỗi khi con phạm tội.

Vậy mà Thầy vẫn nhất nhất chung tình với con cả khi có những lúc con đã quên đi hình bóng của Thầy trong cuộc sống mình mà đuổi theo những thứ khác như danh vọng; tiền tài; dục vọng…  Những thứ đó tuy chỉ làm con thấy mất đi bình an, mất đi ơn nghĩa với Chúa, thế nhưng con vẫn mải miết chạy theo, bỏ mặc đằng xa tiếng gọi yêu thương của Thầy.  Xin Thầy hãy kiên nhẫn với con Thầy nhé!

Và con vững tin rằng.  Với con Thầy vẫn giữ một mối tình đơn phương; Thầy vẫn trông ngóng bóng của đứa con hoang đàng này trở về với Thầy; Thầy vẫn tha thiết nguyện xin với Chúa Cha: “Lạy Cha! Xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”(Lc 23,34).

Con đang sống trong tâm tình của những ngày Chay Thánh.  Xin Thầy ban cho con thêm niềm yêu mến Chúa và anh em.  Xin cho con biết trở về với Chúa là Cha trên trời.  Xin cho đôi tay của con trở nên đôi tay của Thầy.  Xin cho trái tim con trở nên trái tim của Thầy.  Để con cùng đi với Thầy trên con đường Thầy đã đi, cùng vác cây Thánh giá Thầy đã vác.  Để con cùng chết đi với Thầy để rồi  con sẽ được sống lại với Thầy.  Sống lại với một con người mới.  Và để con sống đúng như lời của Thầy: “ Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12).

Nguyện xin cho con biết: “Lấy tình yêu đáp trả lại tình yêu!”

Gửi Thầy Giê-su yêu mến!

Stone

THÍCH TỐI HƠN SÁNG

Cúp điện bất ngờ là điều gây khó chịu. Trong bóng tối, người ta đi tìm hộp quẹt, tìm ánh sáng để thắp lên một ngọn nến, một cái đèn dầu. Nói chung chẳng ai thích bóng tối, vì bóng tối là dấu hiệu của lạc hậu, thiếu văn minh.

Ấy thế mà cũng có những người mê bóng tối: Bóng tối  của quán cà phê đèn mờ, của bia ôm, của karaokê, của sàn nhảy… Phải bỏ tiền ra để mua được bóng tối.  Bóng tối đồng lõa, che đậy, lấp liếm, làm mặt nạ.  Bóng tối trong tâm hồn cần có bóng tối ở bên ngoài. Nó sợ ánh sáng làm lộ chân tướng.

zzÁnh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.” (Ga.3:20). Thích tối hơn sáng, đó là thảm kịch nơi lòng con người, bởi lẽ con người được sinh ra để sống cho ánh sáng.

Lắm khi người ta từ chối tin vào Đức Kitô, từ chối đến với ánh sáng và sự thật, chỉ vì đời họ chìm trong bóng tối và giả trá.  Cần thay đổi cuộc sống để đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô, để can đảm đến với ánh sáng dù biết mình đang chìm trong bóng tối. Nói cho đúng hơn, vì biết mình nô lệ cho bóng tối mà ta khao khát vươn tới ánh sáng.

Đừng trốn chạy ánh sáng như Ađam, Evà. Hãy để cho ánh sáng vén mở chính mình, bắt ta đối diện với sự thật trần trụi về mình, để rồi ta được rực rỡ trong niềm vui vì được ánh sáng chiếu soi.

Chỉ có một cách ra khỏi bóng tối đó là trở lại với ánh sáng, bằng cách ngước nhìn lên cao…Dân Do Thái xưa kia trong sa mạc đã được chữa lành nhờ tin tưởng nhìn lên con rắn đồng treo trên cây gỗ. Ngày nay, chúng ta được cứu độ, được sự sống đời đời nhờ tin tưởng nhìn lên Đức Giêsu bị treo trên thập giá. Thập giá là tột cùng của nhục nhã đớn đau, nhưng cũng là biểu hiện tuyệt vời của một tình yêu.

Người Kitô không phải là người tôn thờ đau khổ, nhưng là người say mê tình yêu: Tình yêu của Cha khi trao ban người Con yêu dấu, tình yêu của Con khi hiến tặng mạng sống mình.

Ngày nay, nhiều nhà thờ đã đặt tượng Chúa Phục Sinh thay cho thập giá, nhờ đó bầu khí nhà thờ tươi vui hơn. Nhưng ta vẫn không được quên nhìn lên thân xác bầm tím nát tan của Đức Giêsu trên Núi Sọ.

********************

Lạy Chúa Giêsu,

Tạ ơn Chúa đã cho con ánh sáng mặt trời, mặt trăng, và ánh sáng từ những nguồn năng lượng trên mặt đất.

Tạ ơn Chúa vì Chúa đã gọi con là ánh sáng. Đó là vinh dự và cũng là một trách nhiệm nặng nề Chúa trao ban cho con.

Xin ban ơn giúp sức cho con để con biết đẩy lui bóng tối của hận thù; của bất công; của buồn phiền và thất vọng.

Xin cho con biết giữ gìn ngọn lửa mà Chúa đã thắp lên trong lòng con, và nhất là biết trở lại với Ánh Sáng, để Ánh Sáng dẫn đưa con đi vào sâu thẳm trong Tình Yêu. Amen

Trích trong “Manna”

(BĐ1:2Sb.36:14-16 &19-23 – BĐ2:Ep.2: 4-10 – PA:Ga 3,14-21)

 

TA KHÁT

zzThầy yêu mến!

Với những sự ồn ào của cuộc chạy đua trong thời đại kinh tế thị trường, một xã hội mà vật chất quan trọng hàng đầu.  Ở đâu đâu cũng là những toan tính thiệt hơn, đâu đâu cũng là những bài toán cho việc kiếm tiền.  Và ở đâu đó trong sự ồn ào đó con vẫn nghe có tiếng nói tha thiết vọng lại: “Tôi khát!” (Ga19,28). Tiếng nói ấy như xoáy vào trong tâm khảm của đứa con nhỏ bé này.

Con biết Thầy đang khát, Thầy khát những lời cầu nguyện trong thế giới mà danh vọng và vật chất đã che phủ hết trái tim của con người chúng con – nhiều khi chúng con đã phủ nhận sự hiện hữu của vị Thiên Chúa tình yêu.

Con biết Thầy đang khát những trái tim biết mở cánh cửa ra để đón nhận nhau, trong một thời đại mà thù hận và ghen ghét phủ kín đi bóng mát của tình yêu – Mà tình yêu thì phát xuất từ Thiên Chúa. “Vì Thiên Chúa là tình yêu.” (1Ga 4, 8).

Con biết Thầy đang khát những trái tim đơn sơ chân thành chạy đến nép mình trong trái tim Thầy để tìm kiếm bình an, để đắm mình trong tình yêu không điểm dừng không giới hạn của Thầy – một tình yêu dám chết cho người mình yêu.

Con biết Thầy đang khát những con chiên lạc đàn, Thầy khát khao tìm và đưa chúng về cùng Thầy, về bên Thầy.

Con xấu hổ với tình yêu của Thầy vì đôi khi con ngại ngần, đôi khi con sợ khó nhọc.  Vì khi cuộc đời là hưởng thụ thân xác, thỏa mãn xác thịt thì con biết khi đi trong tình yêu của Thầy là đi ngược lại với dòng chảy của cuộc đời ấy, là đi bên trái con đường ấy, là lội ngược dòng chảy của sự hưởng thụ ấy. Xin Thầy giữ cho con đi đúng con đường mà Thầy đã đi qua, Thầy nhé!

Thầy yêu mến! Vậy mà đôi khi những bước chân của con như lạc nhịp, con bị dòng chảy của sự bon chen, sự đòi hỏi của xác thịt kéo con ra xa Chúa – khi đó con như đang bị chìm xuống cái hố sâu , một cái hố vắng tình yêu Chúa.

Thầy yêu mến!  Con xin hát lời tạ ơn Thầy – vì khi con đang chìm xuống thì bàn tay Thầy đưa ra nắm lấy con, đưa con trở về để yêu thương con.  Con biết rằng  khi ở bên Thầy con thấy con chẳng thiếu thứ gì. Xin cho con cũng luôn luôn biết khát, khát khao được sống trong Thầy và với Thầy hàng ngày suốt cuộc đời con, để quả tim của con, hơi thở của con có cùng nhịp với quá tim và hơi thở của Thầy. Thầy nhé!

Gửi Thầy Giê-su yêu mến!

Con Dom Stone

HƯỚNG ÐẾN MAI SAU

Ngày nọ, tại một khu rừng diễn ra một cuộc gặp gỡ của ba con vật: Lừa, rùa và ruồi.  Cuộc sống của loài ruồi chỉ kéo dài trong một ngày.  Con ruồi nói với rùa và lừa như sau:

– Các bạn thử xem, nếu mà cuộc sống của tôi dài hơn một chút nữa thì dễ chịu làm sao.  Thử xem, chỉ trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà tôi phải làm mọi việc, nào là được sinh ra, rồi phải lớn lên, phải học biết những kinh nghiệm, phải chịu đau khổ cũng như hưởng những niềm vui, rồi già cỗi và chết đi.  Tất cả chỉ diễn ra trong hai mươi bốn giờ đồng hồ thôi.

Lừa nói:

– Nếu tất cả chỉ diễn ra trong hai mươi bốn giờ thì tôi thích chỉ được như thế thôi.  Tôi sẽ cố gắng cho đi tất cả, rất ngắn ngủi nhưng cũng rất ngọt ngào.

Rùa nhìn lừa rồi nói:

– Tôi chẳng thể nào hiểu được các bạn.  Tính cho đến lúc này là tôi đã sống được ba trăm năm rồi, vì thế cũng chẳng có thời gian để chia sẻ với các bạn những kinh nghiệm của tôi bởi tôi đã có quá nhiều kinh nghiệm.  Khi vừa tròn hai trăm tuổi, tôi ao ước cuộc sống của tôi sớm được kết thúc.

Rồi quay nhìn lừa, rùa nói:

– Tôi ganh tị với bạn và với ruồi.

Lừa nói:

– Thật đáng tiếc cho bạn.

Lừa lại phát biểu:

– Sau khi nghe rùa nói, tôi thấy không thể nào tưởng tượng được và ước gì tôi có được cuộc sống dài như vậy.  Tôi có thể sống ba trăm năm có được không?  Hãy nghĩ xem, nếu có cơ hội được sống lâu như vậy tôi sẽ rất vui vì được nếm hưởng mọi sự trên đời này một cách lâu dài và thật mãn nguyện.

Rồi cả ba cùng buồn bã nhìn nhau trong im lặng, rồi chúng đo lường cuộc đời của chúng dài ngắn theo thời gian của kim đồng hồ, mỗi kẻ thích một điều, con thì thích đời dài hơn, con khác lại thích đời mình ngắn hơn một chút.  Cả ba con vật cùng nhìn ra xa và thấy con nhện đang giăng tơ.  Chị nhện vẫn được coi là vật khôn ngoan, được hỏi ý kiến, và xin cho mình một lời khuyên phù hợp.  Nhện nhìn rùa và bảo:

– Rùa ơi, hãy ngưng phàn nàn đi vì nào có ai có được nhiều kinh nghiệm bằng ngươi đâu.  Còn chú ruồi cũng đừng nên phàn nàn chi cả, vì có ai có nhiều niềm vui như ngươi đâu, vì chỉ trong hai mươi bốn giờ đồng hồ mà ngươi được nếm hưởng mọi sự trên cuộc đời này.  Và lừa ơi, ta chẳng biết phải nói với ngươi điều gì vì ngươi dường như muốn sống lâu như rùa là giống loài muốn sống cuộc đời ngắn như chú ruồi kia, ngươi mãi vẫn chỉ là một loài vật ngốc nghếch.

******************************

Người ta thường dùng câu ngụ ngôn để giải thích tại sao nói ví là ngốc như rùa.  Nhưng ở khía cạnh khác của câu chuyện, chúng ta cũng rút ra một bài học hữu ích cho chúng ta khi suy nghĩ về số mạng của mình, như chúng ta đã từng nói với nhau, chúng ta chỉ thực sự hạnh phúc khi chúng ta nhận ra số mạng Chúa đã ủy thác cho mỗi chúng ta.  Thái độ đó không làm thui chột khả năng mơ ước của chúng ta.  Khả năng mơ ước và ngưỡng vọng của chúng ta thăng tiến cuộc sống của mình.  Vì thế, chúng ta nên phát huy khả năng ước vọng Chúa ban cho chúng ta.  Nhưng chúng ta cũng đừng đồng hóa khả năng tốt lành đó với một tật xấu khác là sự ganh tị.

Sự ngưỡng vọng về một tương lai có thể là một tương lai xa mà cùng có thể là tương lai gần, và những chọn lựa của chúng ta trong cuộc sống thường nhật chỉ cách nhau một vài giây sẽ làm cho chúng ta nhìn ra chính con người thật của mình với những ưu khuyết điểm rất rõ ràng.  Từ đó, chúng ta sẽ biết mình phải cố gắng phát triển thêm những mặt nào cũng như phải loại bỏ những điều gì không phù hợp trong cuộc sống của mỗi chúng ta.  Thái độ ấy không làm chúng ta thất vọng, trái lại nó làm chúng ta biết khiêm nhường và mau tiến triển hơn.

Làm sao có hạnh phúc khi nhận ra con người thật của mình trong chương trình của Chúa?

Chúng ta vui và hạnh phúc là nhờ Thiên Chúa và lời mời gọi nên trọn lành của Ngài để sống vui, trái lại sự ganh tị làm cho người ta cảm thấy nôn nao và lo lắng.  Người có tính ganh tị là người chỉ nhìn vào người khác rồi lo sợ và so bì với họ chứ không nhìn vào chính mình.  Người có tính ganh tị cũng sẽ là người hoặc tự mãn tự kiêu hay là người luôn tự ti mặc cảm, và những người này không thể nhìn xa hơn để vượt ra khỏi cái nhìn của mình, để rồi cứ quanh quẩn với cái nhìn phiền trách của mình để so đo điều hơn thiệt của mình với người khác.  Vì vậy, mỗi chúng ta hãy luôn nhắc mình để biết nhìn xa hơn, đặt mình trong chương trình của Chúa.  Chỉ khi chúng ta được nằm trong tình thương quan phòng của Chúa, chúng ta mới nhận ra giá trị của mình với Chúa hơn, cũng như sống tương quan, với anh chị em mỗi ngày một tốt hơn.

******************************

Lạy Chúa,zz

Xin cho chúng con biết sống gắn bó mật thiết với Chúa hơn trong mùa Chay này để chúng con nhận ra ơn gọi của mình và biết trân trọng những khác biệt của anh chị em để sống vui, hạnh phúc và luôn ngưỡng vọng về Chúa kể cả chân thiện mỹ.

R. Veritas

ĐEM TẤT CẢ NHỮNG THỨ NÀY RA KHỎI ĐÂY

zzTrong sách Tin Mừng, hiếm khi ta thấy Đức Giêsu nổi giận. Ngài bình thản đón lấy nụ hôn phản bội của Giuđa. Ngài lặng lẽ trước những lời cáo gian buộc tội. Chính Ngài đã mời ta học nơi Ngài bài học hiền lành và khiêm nhượng. Vậy mà trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay ta lại thấy Đức Giêsu dùng roi để đuổi những người buôn bán bồ câu, chiên bò, Ngài còn lật nhào bàn ghế của những người đổi tiền bạc.  Dù rằng những chuyện buôn bán này chỉ diễn ra ở ngoài phạm vi Đền Thờ, nơi tiền đình dành cho dân ngoại, nhằm phục vụ cho nhu cầu tế tự của những người đi hành hương vào dịp lễ Vượt qua, nhưng Đức Giêsu vẫn thấy đó là một điều bất kính, vì chúng tạo ra một bầu khí ồn ào, hỗn độn.

Đức Giêsu vốn qúy trọng Đền Thờ Giêrusalem.  Ngài gọi đó là nhà Cha của tôi, nhà cầu nguyện.  Ngài không muốn nơi Thánh này trở thành cái chợ.  Ngài không chấp nhận nhà của Cha Ngài bị xúc phạm.  Chính tình yêu đã khiến Đức Giêsu nổi giận.  Ngài thấy cần phải thanh tẩy Đền Thờ, dù điều đó sẽ đưa Ngài đến chỗ thiệt thân.

“Cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại.” Đức Giêsu ám chỉ đến cái chết và sự phục sinh của Ngài.  Đền thờ ở đây là chính thân thể Đức Giêsu. Thân thể được phục sinh của Ngài sẽ là Đền Thờ mới, nơi nhân loại thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực

Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem.  Ngài cũng muốn thanh tẩy các nhà thờ của chúng ta. Ngài muốn nơi đó thực sự là nơi thờ phượng, nơi lắng đọng để con người gặp gỡ Thiên Chúa. Có khi thánh lễ trong các nhà thờ của chúng ta trở nên máy móc, buồn tẻ. Có khi lại qúa ồn ào, nặng tính trình diễn. Thánh lễ cần một cái hồn, cần một sức sống lan tỏa từ Chúa Giêsu phục sinh.

Để tâm đến việc sửa chữa nhà thờ là cần thiết, nhưng vẫn không đủ.  Mỗi Kitô hữu cần để tâm xây dựng con người của mình, bởi lẽ đó cũng là đền thờ của Cha và Con (Ga.14,23).

Chính thân xác ta cũng là đền thở của Thánh Thần (1Cr 6,19). Có những đền thờ thánh thiêng đã trở nên phàm tục.  Đam mê vô độ của thân xác đã trục xuất Thánh Thần.

Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây!” Chúa Giêsu hôm nay cũng giận dữ như thế khi thấy tâm hồn của ta bị vấy bẩn, đền thờ của Ba Ngôi bị nhơ nhớp. Tha nhân quanh ta cũng là những đền thờ. Và đã có nhiều đền thờ quanh ta bị xuống cấp, bị tước đoạt và sụp đổ…

Mùa chay là mùa tu sửa các đền thờ, để mọi đền thờ đều dẫn đến Đền Thờ Giêsu.

***

Lạy Chúa! Xin ban ơn giúp sức cho con, để con luôn biết tu chỉnh cuộc sống, biết tẩy rửa tâm hồn để xứng đáng là đền thờ cho Chúa ngự trị. Amen.

(Trích trong ‘Manna’)

ANH CẢ

zz“Về gần đến nhà, khi nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì” (Lc 15:25).

Đó là phản ứng đầu tiên của người anh trong câu chuyện “đứa con hoang đàng” hay là “người cha nhân hậu” của Phúc Âm thánh Luca.

Tại sao không vội vã vào ngay?

Có thể anh ta đoán được chuyện gì đang xảy ra.  Chuyện người em đã về.

Anh ta không muốn vào nhà vì biết đâu người em đã về thật.  Anh gọi người đầy tớ ra hỏi cho chắc.  Không ngờ, người đầy tớ báo tin.  Trong lời báo tin này có ba sự kiện:

– Em cậu đã về !

– Cha cậu đã giết con bê béo !

– Vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ! (Lc. 15:27).

Nghe xong, anh “nổi giận”, không chịu vào nhà.  Thế là hết!  Ba yếu tố vừa kể trên làm anh ta đau đớn. Anh không muốn đứa em về.  Không muốn người cha thịt con bê béo.  Không muốn người cha nhìn đứa em mạnh khoẻ.  Anh chối từ bữa tiệc.  Chối từ bữa tiệc cũng là không muốn gặp mọi người hiện diện ở đó.  Nếu vào nhà, gặp đứa em, anh ta làm sao chạy ra?  Nếu vào nhà, bà con láng giềng chúc mừng em anh ta đã về, anh biết phản ứng làm sao?  Anh không vội vã vào nhà.  Anh đã tính toán khá kỹ.

Tại sao không truyền lệnh mà năn nỉ?

Có thể người đầy tớ phải vào báo cho chủ biết nên người cha mới ra gặp anh ta.  Hoàn cảnh người cha rất khó xử.  Nếu anh ta không vào, ông trả lời thế nào với đứa con thứ khi nó hỏi:

– Anh con đâu?

Nếu người con trưởng không vào, ông biết nói thế nào với bà con láng giềng về sự vắng mặt rất ý nghĩa này.  Nếu những người giúp việc nói chuyện với nhau, họ phản ứng thế nào, vì họ không ngờ chuyện lại xảy ra như thế.  Ai cũng nghĩ là một ngày vui.  Rồi câu chuyện đến tai bà con lối xóm, những người dự tiệc.  Bây giờ, đề tài trong bữa tiệc này chuyển hướng về đâu?

Ngày hôm nay, có bố mẹ cũng không sao sắp xếp được cho các con ngồi chung với nhau một tiệc vui. Có những anh em thề không nhìn mặt nhau.  Họ nói:

– Nếu có vợ chồng chúng nó, không có con!

Vì sao người cha trong câu chuyện này không truyền lệnh mà lại năn nỉ?  Ông rơi vào tình cảnh đó.  Ông ở một hoàn cảnh rất thương tâm.

Phản ứng của người con thứ

Cho đến lúc này ta không nắm chắc tâm tư người con thứ và cuộc trở về của nó.

Nếu người con thứ biết anh nó đang nổi giận ngoài kia.  Liệu bữa tiệc có tiếp tục vui?

Chi tiết cho hay là nó về vì đói.  Luca nói rõ: Nó ước ao lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng. Nhưng không ai cho.

Điều cần lưu ý ở đây là chữ “dân”. Nó đi chăn heo cho một người “dân” trong vùng . Không phải chăn heo cho một ông chủ.  Người dân này lại đang trong nạn đói “khủng khiếp”.  Heo của nhà giàu, chắc ăn thức ăn khác của nhà nghèo.  Đã nghèo mà lại trong nạn đói khủng khiếp.  Như vậy còn gì mà ăn?  Ấy thế mà nó vẫn chưa chịu về, vẫn xin đồ ăn của “heo-nhà-nghèo-trong-nạn-đói”.  Giả sử người ta cho nó thứ đồ ăn đó, nó đâu có về.  Bằng chứng là nó chỉ về khi người ta không cho nó.  Nếu không về lấy gì ăn?

Sau cái ôm hôn, sự gặp gỡ cha có làm nó mủi lòng thật tâm trở về hay không?  Phúc Âm không nói rõ.  Dù nó thật tâm hay không thì người cha vẫn có bữa tiệc.  Chúng ta không nắm chắc được tấm lòng người con thứ sau vòng tay của cha.  Có thể nó sám hối ngày tháng cũ khi cảm thấy cha thương mình.  Cũng có thể chưa.  Cũng có thể lên mặt với người anh khi thấy anh nó hành xử như vậy.  Luca viết đoạn văn này tuyệt với với những nét “thiền niệm” quá sâu.  Luca để băn khoăn đặt ra là, nếu biết người anh nổi  giận vì cuộc trở về của mình, phản ứng nó sẽ ra sao?  Và điều gì xảy ra trong bữa tiệc?

Nguyên nhân của những nguyên nhân

Dựa vào bản tường thuật, sau khi chia gia tài, đứa con thứ “ít ngày sau, thu góp tất cả, rồi trẩy đi phương xa” (Lc. 15:13).  Nó ở lại ít ngày, và thu góp “tất cả” rồi mới trẩy đi phương xa.  Như thế, khi ra đi nó không thể bỏ cái áo “đẹp nhất” ở lại.  Ngày nó về, người cha bảo các đầy tớ mau mau đem áo “đẹp nhất” ra đây mặc cho cậu.

– Áo đó ở đâu?

Khi được sai đi lấy áo, người đầy tớ không hỏi áo nào.  Người đầy tớ biết rõ “cái áo”.  Có một liên hệ hiểu ngầm nào đó giữa người cha, chiếc áo và người đầy tớ.  Họ biết rõ về câu chuyện cái áo.

– Bắt con bê đã “vỗ” béo để làm thịt.

Không phải con bê béo, nhưng là con bê đã “vỗ” béo.  Như thế ta thấy rõ cái áo từ đâu ra.  Cái áo phải là chiếc ông may sẵn.  Vì con bê đã được “vỗ” béo.  Bắt con bê mà từ trước tới nay vẫn săn sóc đặc biệt cho nó béo.  Săn sóc đặc biệt con bê cho béo để làm gì?  Bản tường thuật cho thấy rõ. Ông thịt con bê đó trong ngày người con thứ trở về.  Như vậy, trước khi nó về, người cha may áo mới chờ đợi, săn sóc con bê cho bữa tiệc.  Tất cả những chuyện này, đầy tớ là người lo chuẩn bị.  Cho nên khi công việc xảy ra, mọi chuyện đâu vào đó.  Khổ một điều, tất cả chuyện này, người con cả cũng biết.

Người con cả thấy đầy tớ săn sóc con bê cho béo.  Anh ta thấy may sẵn áo mới chờ ngày.  Từ ngày đó, lòng anh không yên tâm.  Những ngày sống của anh là giận kín trong lòng.  Hồn anh là tháng năm rất âm u.  Nhìn con bê, nghĩ đến bữa tiệc có ngày xảy ra.  Anh sợ ngày đó.  Anh lo một ngày nào đó đữa em sẽ về.  Không ngờ, hôm nay nó về thật.

Dang dở ngàn trước cho đến ngàn sau

Người anh cả.  Câu chuyện dang dở từ đây.

“Gọi người đầy tớ ra mà hỏi”.

Bình thường khi thấy gia đình như thế, người ta phải vội vã chạy về xem có chuyện gì mà vui vậy. Nhưng anh dè dặt, vì… nếu là tiệc cho đứa em thì sao?  Nếu chạy vào mà đúng là đứa em về thì… trời ơi!  Anh ta gọi người giúp việc ra hỏi, sự thận trọng đó là đúng.

Đời anh là những tháng ngày dang dở.  Từ khi người con thứ bỏ nhà đi thì người cha cũng mất luôn người con trưởng, vì tấm lòng nó chật chội quá.  Nó ở trong nhà, mà tấm lòng chỉ là một quán trọ tính toán giữa chợ.  Căn nhà không có trái tim bao dung, buồn làm sao.  Anh sống những ngày ảm đạm của một tấm lòng khoắc khoải.  Nếu ngày nào đó có tiếng đàn ca thì sao, buồn quá.  Anh lo cho ngày đó, anh sợ tiếng đàn vui.

Cuộc đời như vậy lặng lẽ quá nhỉ.

– Chưa bao giờ cha cho con lấy được một con dê con.

Thì ra thế!  Thời gian những người đầy tớ “vỗ” con bê cho béo, cũng là những tháng ngày nó bị dằn vặt đau đớn.  Nó thầm mong một con dê con.  Ấy vậy mà bây giờ cha dám giết cả một con bê béo vì thằng em.  Lòng ghen tức làm nó khổ.

Trong lúc “nổi giận” không chịu vào nhà, nó nói gì?  Bản tường thuật cho thấy nỗi đau ray rứt linh hồn anh ta sâu lắm.

– Thằng con của cha đó, sau khi nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng! (Lc. 15:30).

Anh ta lại nhắc đến con bê.  Con bê béo này là hình ảnh xót xa liên hệ đến con dê, vì một con dê con anh cũng không có.  Rồi vì con bê ấy thúc đẩy anh dùng cụm từ này: “Thằng con của cha đó”. Anh ta nói với cha mình như vậy.  Thế thì, anh ta là con ai?  Đứa nào ngoại hôn?  Cụm từ “thằng con của cha đó” là nỗi đau vô vàn đối với một người cha có con như vậy.  Làm sao một người con có thể nói với cha mình như thế.

Đời người con cả trong câu chuyện này quá dang dở.  Anh ta sống, nhưng không còn là anh ta sống nữa.  Bên cạnh cha là bổn phận ngày tháng dài lê thê.  Anh chưa hề trái lệnh.  Chính vì chưa trái lệnh nên mới càng đau.  Chưa trái lệnh mà không được một con dê con, nên cái lê thê mới dài, dài của những ngày tìm mà không gặp cái mình tìm.  Lòng ghen tức, nỗi cay nghiệt, xót xa trăn trở sống trong anh ta.  Thấy cha may áo chờ, biết đâu có ngày người con thứ về.  Từ ngày nó bỏ đi, thì lòng người con cả rối bời, chỉ sợ ngày em nó về.  Nhìn gia nhân săn sóc con bê cho béo, anh đau đớn.  Nhìn con bê, nghĩ đến cái áo, anh không một ngày vui.  Cuộc sống anh ta khổ quá.

Tại sao người cha không cho?

Ông còn gì đâu mà cho!  “Tất cả những gì của cha đều là của con!”  Như thế, có nghĩa là nó có thể giết bất cứ con dê nào nó muốn, vì tất cả là của nó!  Trời ơi!  Vậy mà nó không biết.  Tại sao nó không hiểu điều này!  Đời anh ta sao dang dở quá vậy?  Anh ta sống bên gia nghiệp lớn như thế mà cứ nghèo, ao ước một con dê con cũng không được.  Giữa những cơn nghèo ấy, giữa những tháng ngày khao khát ấy, thì cừu cứ từng bầy, chiên cứ từng đàn ngày ngày đi về trước đời anh.  Tại sao sống bên vàng bạc lại túng thiếu, bên cánh đồng mà không đủ thóc.  Tại sao suối đầy nước mà ruộng mình cứ nắng hạn. Đời anh dang dở quá. “Tất cả của cha là của con”.  Câu này mang ý nghĩa là nó muốn giết con dê nào thì giết.  “Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn thì anh em không còn lệ thuộc lề luật nữa” (Gal. 5:18).  “Nếu gia nghiệp dành cho những kẻ lệ thuộc lề luật thì đức tin thành vô nghĩa và Lời Thiên Chúa bị huỷ bỏ” (Rom. 4:11).

Mà đời người cũng bi thương khôn cùng.  Con sống bên mình mà không biết tâm tư của mình. Cha con cứ xa nhau.

Người con thứ chỉ xúc phạm cha một câu: “Xin chia phần tài sản con được hưởng”.  Người con trưởng xúc phạm đến cha nhiều quá.

Không thấy người con thứ xúc phạm  đến anh nó.  Nhưng người con trưởng xúc phạm cả em nó.  Tại sao nó đương nhiên kết luận em nó nuốt hết của cải với “bọn điếm”.

Người con thứ ra đi, cha nó thương vì có nhớ.  Hoặc vì nhớ nên thương.

Người con trưởng ở nhà, nên không thể nhớ.  Không nhớ, nhưng cha có thương không?  Điều này chắc chắn có.  Vì: “Tất cả những gì của cha đều là của con”.

Cái bất hạnh của người con trưởng là không nhận ra tình thương của cha.  Trong tình yêu, khi không nhận ra thì cũng không nhận được.

Nếu người con trưởng không nhận ra, không nhận được tình thương của mình, thì tình thương của người cha lại trở về với ông ta mà thôi.  Cho mà không có người nhận, đó là cô đơn.

Cuộc đời người cha trong câu chuyện này cũng quá dở dang.  Một nỗi cô đơn của kẻ cho mà không có người nhận.  Của kẻ gần mà quá xa.

Cha anh ta ra năn nỉ:

– Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy (Lc. 15:32).

Lời người cha nói: “Em con đây”, vừa êm ái vừa tha thiết.  Nhưng với người con trưởng có là “em con đây” hay vẫn là “thằng con của cha đó”.

Câu chuyện thật là dang dở ở đoạn kết.  Sau khi người cha nói với anh ta như vậy, Luca chấm dứt câu chuyện.  Đọc xong rồi, người đọc băn khoăn:

– Vậy sau cùng, người con trưởng có vào nhà không?

Luca không cho người đọc biết quyết định của anh ta.

Tôi giả sử:  Nếu anh vào thì mọi chuyện quá đẹp.

Nếu anh ta không vào.  Bao nhiêu vấn nạn được đặt ra.  Liệu bữa tiệc có tiếp tục?  Tiếp tục thế nào?  Chiều đến, từ xa vẫn nghe “tiếng đàn ca nhảy múa”.  Các người dự tiệc sẽ hỏi gia chủ:

– Thưa ông, thế cậu hai đâu?

Người cha biết trả lời khách làm sao.  Nếu chiều về, người con thứ vẫn không thấy mặt anh mình trong bữa tiệc.  Người cha sẽ nói gì với nó khi ông biết rõ anh nó đang “nổi giận”, và không chịu vào nhà.

Câu chuyện thật dang dở.  Liệu  bữa tiệc có dở dang không?

Tại sao Luca, khi viết chuyện này không cho đoạn kết?  Tại sao lại bỏ lửng câu chuyện ngang chừng?  Đọc xong, người đọc không biết người con cả có vào nhà hay tiếp tục ở ngoài.

Đọc xong, ta thấy một trời bơ vơ.

Tâm trạng người cha thế nào?  Nó không vào, ông trả lời khách sao đây?  Ông tìm cách nào để cắt nghĩa cho người con thứ về sự kiện anh nó nổi giận không chịu vào nhà?  Tâm trạng người con thứ nữa, nó có điên tiết, anh em đánh nhau ngay bữa tiệc?  Lối xóm phản ứng ra sao?  Câu chuyện trong bữa tiệc chuyển đề về đâu?  Tất cả rối bời.

Giả sử Luca cho người con trưởng hối hận rồi nghe cha vào nhà, câu chuyện có toàn bích hơn không?  Vì sao Luca không viết rõ?

Đọc xong, băn khoăn không biết hỏi ai.

Một trời bơ vơ.

Phải chăng vì tác giả biết có ngày người ta sẽ băn khoăn đặt câu hỏi.  Phải chăng Luca muốn cho cái dang dở ấy hết dở dang khi người ta tự thắc mắc với chính lòng mình:

– Nếu tôi là người anh cả tôi sẽ vào hay không?  Nếu tôi là người con thứ, tôi phản ứng thế nào?

Đây cũng là đường đi một mình, vì chỉ tôi biết rõ lòng tôi.  Chỉ tiêng tôi có câu trả lời cho tôi.

Luca phải để cho câu chuyện dở dang, vì dở dang này chỉ chấm dứt trong tim người đọc chứ không thể hết dở dang bằng ngòi bút.

Nguyễn Tầm Thường S.J

LƯỢM LẶT… MÙA CHAY

zzNgười Công giáo Việt Nam, đặc biệt nơi các thành phố công nghiệp, dần dần Mùa chay chỉ tồn tại ít phút vắn vỏi khi tham dự Thánh Lễ ở nhà thờ.  Việc mưu sinh, học tập, giải trí… hầu như chiếm gần hết thời gian, tâm trí và sức lực của họ.  Vì thế, Mùa chay không còn vị thế đúng mực trong đời sống thường nhật của chúng ta.  Chẳng trách chi, người vô thần thường dùng cụm từ “tốt đời – đẹp đạo” dành cho Kitô hữu, đúng ra ta phải sống “tốt đạo – đẹp đời”.  Một ít suy tư muốn được gửi gắm qua bài viết này, mong lượm lặt lại vài hình ảnh sống đạo Mùa Chay thuở nào, nay đang dần rơi vào quên lãng.

“Hôm nay thứ Sáu nha tụi con nhớ mà kiêng thịt đấy!”.  Tôi nhớ như in lời của mẹ từng dạy tôi khi còn bé.  Việc kiêng thịt ngày thứ Sáu, đối với vài Giáo phận, chẳng hạn Giáo phận Bà Rịa là luật buộc!  Hơn nữa, điều luật thứ sáu “trong Sáu điều răn Hội Thánh” dạy rằng: “Kiêng thịt ngày thứ Sáu cùng những ngày khác Hội Thánh dạy”.  Tuy nhiên, với nhu cầu mục vụ, Giám mục các địa phận qui định cụ thể việc “buộc” và “nới” cho vấn đề này.  Với Giáo phận Sài Gòn, nơi tập trung nhiều giáo dân, giáo sĩ từ nhiều Giáo phận của cả nước, luật “kiêng thịt ngày thứ Sáu” trở thành “luật tự do” để chọn.  HĐGM Việt Nam cho phép việc kiêng thịt ngày thứ Sáu có thể được thay thế bằng việc đọc và suy gẫm một đoạn Lời Chúa hoặc làm một việc bố thí nào đó!  Giáo hội địa phương rất cảm thông với con cái mình vì nhiều hoàn cảnh khách quan.  Dẫu vậy, một số người Kitô hữu vẫn… làm ngơ ngay cả những hành động thay thế.  Tôi nhớ lại vài dữ kiện Kinh Thánh, trước tiên, “Luật” trong Kitô giáo không cứng ngắc.  Nghĩa là “Anh em hãy nói năng và hành động như những người sẽ bị xét xử theo luật tự do” (Gc 2,12).  Mặt khác, nhờ tin vào Đức Kitô mà ta nên công chính, chứ không phải vì chuyện giữ luật: “Vậy thưa anh em, xin biết cho điều này: Chính nhờ Đấng ấy (Đức Giêsu – tác giả bài viết chú thích) mà ơn tha tội được loan báo cho anh em; và trong khi anh em không thể được giải thoát khỏi tội lỗi mà trở nên công chính nhờ tuân giữ luật Môsê, thì nhờ Người, mọi kẻ tin đều được nên công chính” (Cv 13, 38-39).  Nói như thế, có phải là Lời Chúa dạy các tín hữu chỉ cần tin vào Thiên Chúa mà không cần giữ luật không?  Thưa không!  Niềm tin vào Thiên Chúa đòi hỏi phải có hành động cụ thể: “như một thân xác không hơi thở là một xác chết, thì đức tin không hành động là đức tin chết” (Gc 2,26).  Tôi tin có Thiên Chúa và tôi muốn thông phần vào sự sống của Người.  Do vậy, tôi phải hành động cho người khác thấy niềm tin của tôi.  Như Đức Giêsu, xưa trong hoang địa ăn chay bốn mươi đêm ngày, tôi cũng phải nỗ lực hết sức để  chu toàn trách nhiệm của tôi vì lòng yêu mến Thiên Chúa và Hội Thánh của Người.

Trong Mùa chay, Giáo hội khuyến khích ta nên hành động cụ thể trong một số công việc để giúp ta “hãm mình – ép xác” và giữ chay lòng.  Cụ thể là dịp bố thí.  Vì thế, rất nên “kiêng” một số cuộc vui, cuộc “họp mặt” bầu bạn nhằm lai rai để tâm tình hay để giải sầu, xả stress… để hiệp thông với Giáo Hội trong việc sống Mùa Chay thánh này.  Khi “kiêng” vài cuộc vui như thế, chúng ta sẽ tiết kiệm được một số tiền dành cho việc bỏ thau Nhà thờ, bố thí người nghèo.  Một số tu viện “hiệp thông” trong công việc này bằng cách nhịn món tráng miệng trong các bữa ăn (chủ yếu là chuối), để cố dư ra một số tiền (dù ít ỏi) để gửi tặng anh chị nghèo khổ, neo đơn. “Của ít lòng nhiều” mà!  Tôi nhớ lại Lời Chúa đã dạy: “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

Việc hy sinh, hãm mình, bố thí… được khuyến khích thực hiện trong suốt Mùa chay.  Nhưng nếu chỉ làm hai chuyện này mà thôi, thì e là chưa đủ!  Việc không thể thiếu trong Mùa Chay là “cầu nguyện”.  Những hành động dễ thương như ngả nón, nghiêng mình của ông bà ta khi đi ngang qua Nhà thờ hình như đã mất hút đâu rồi trong thời đại ngày nay.  Bởi lẽ, ngày nay, người ta “tân tiến” quá nên đã cùng với những chiếc xe gắn máy đời mới vồn vã đạp số rú ga bay vèo qua Nhà Chúa mà không thấy chút gì vấn vương trong tâm hồn!  Một gợi ý nho nhỏ tôi xin mạo muội mời gọi mọi người cùng tham gia trong những ngày Mùa chay này.  Dĩ nhiên không phải là chuyện gỡ bỏ “nón cối cồng kềnh, nặng trịch” ra khỏi đầu, cho bằng một câu nói nhỏ “Lạy Chúa Giêsu, con thờ lạy Chúa” khi ngang qua Nhà thờ.  Chúa sống cùng tôi.  Và tôi diễn tả niềm tin của mình và chủ tâm chào Chúa Giêsu đang hiện diện cách đặc biệt nơi Bí tích Thánh Thể.

Còn nhiều lắm những hành vi đạo đức rất nên áp dụng nơi cuộc sống trong những ngày Mùa Chay này.  Tôi cần tìm một người bạn đồng hành để cùng tôi lượm lặt những “nét đẹp truyền thống” trong Giáo Hội vốn đang bị mai một đi bởi tinh thần thế gian, rồi cùng nhau áp dụng chúng trong Mùa chay này.  Bạn sẵn lòng chứ?

LG. Hùng Sơn

Lg.hungson@gmail.com

 

BIẾN HÌNH VỚI ĐỨC GIÊSU

zzTin Mừng Chúa Nhật hôm nay nói về cuộc biến đổi hình dạng của Đức Giêsu trên núi Tabor.  Trong ngày hôm đó, Ðức Giêsu mang theo các môn đệ thân tín của mình là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao.  Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông (Mt.17:2) . Trong cuộc biến hình đổi dạng đó, Ngài đã cởi bỏ thân phận con người để mặc lấy Thiên Tính của Thiên Chúa.  Ngài cho các ông được nhìn thấy vinh quang của Con Một Thiên Chúa, để thêm lòng tin cho các ông.

Hơn hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã biến hình trên núi Tabor. Cuộc biến hình của Ngài vẫn còn tiếp tục diễn ra hằng ngày cho đến ngày nay. Ngài biến hình qua bàn tay của Linh mục trong các Thánh lễ.  Ngài biến hình từ tấm bánh nhỏ bé để trở thành xương thịt của Ngài.  Ngài biến hình từ những giọt rượu nho để trở thành những giọt máu đào đã đổ ra trên đồi Golgotha năm nào để cứu chuộc con người.

Hôm nay, Đức Giêsu mời bạn và tôi cùng “biến hình” với Ngài. Biến hình không phải là trở thành cái gì xa lạ khác thường, nhưng biến hình là để trở về với cái tôi sâu thẳm của chính mình: “Tôi là con yêu dấu của Thiên Chúa”. Đó là ơn được làm con cái Thiên Chúa, là ơn Thánh Sủng, là ơn cao trọng nhất của người Kitô.

Biến hình với Đức Giêsu là thay đổi cuộc sống của ta, là biến đổi tâm hồn ta, là mang vào lòng ta một trái tim mới, trái tim của yêu thương, của tin tưởng và cậy trông phó thác.

Biến hình với Đức Giêsu là vất bỏ ý riêng của ta, là chấp nhận và vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, là lên đường bước đi với Chúa trong tình yêu và ân sủng Ngài ban.

Biến hình với Đức Giêsu là từ giã con người tội lỗi yếu hèn của mình, là trở nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn.

***

Lạy Chúa Giêsu! Xin ban ơn giúp sức cho con để con cũng được “biến hình” với Chúa trong Mùa Chay Thánh này, để con được trở nên giống Chúa mỗi ngày mỗi hơn, và để con cũng được Thiên Chúa Cha nói với con rằng: “Đây là con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về con…” (Mt.17:5). Amen

MỘT CÕI ĐI VỀ

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta, đôi vầng nhật nguyệt
Dọi suốt trăm năm một cõi đi về.

………………….

Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa
Mưa bay trong ta, bay từng hạt nhỏ
Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
Chẳng biết nơi nào là chốn quê nhà.

…………………

Trong khi ta về, lại nhớ ta đi
Đi lên non cao đi về biển rộng
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì.

Trịnh Công Sơn

***************************

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi”, đi hoài đi mãi cho đời mỏi mệt, loanh quanh luẩn quẩn như kiến miệng chén, đi suốt kiếp người mà không biết mình đi đâu, về đâu?  Đi mà “chẳng biết nơi nào là chốn quê nhà”, đi mà không biết cái đích mình sẽ đến, cái nơi mình xuất phát.  Đến nơi này lại nhớ nơi kia, “ta về lại nhớ ta đi”, nếu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã không biết mình đi đâu thì hậu thế hôm nay ai dám biết chắc ông đã về nơi đâu và đang ở đâu?

zzBài Phúc âm Chúa Giêsu biến hình hôm nay, Chúa mời gọi ba môn đệ Phêrô, Gioan, Giacôbê “đi riêng” ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, đến một ngọn núi cao, thanh vắng, không tiếng người, không bon chen ồn ào, tránh xa “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”…. và ở đó, Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông.  Trong không gian tĩnh lặng, các ông nghe được tiếng nói của Thiên Chúa từ trời cao: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9:7).  Hạnh phúc ngất ngây ở bên Người, mắt phàm được mạc khải vẻ huy hoàng rực rỡ của Thiên Chúa đã làm các ông quên tất cả, quên đường về, quên cha mẹ vợ con, quên bổn phận của mình và của Thầy dưới núi.  Ở đây không có cảnh “ta về lại nhớ ta đi” hay “ta trên núi lại nhớ ta dưới núi” cho thế nhân biết các ông đã cảm nghiệm được một hạnh phúc tuyệt đối đích thực.  Chỉ một vài giây phút cảm nghiệm hạnh phúc ngắn ngủi mà các ông sẵn sàng đánh đổi mọi sự để chiếm cho bằng được hạnh phúc đó, dù có phải qua đồi Golgotha máu chảy lệ rơi!

Nếu hôm xưa Chúa mời gọi các ông “đi riêng” với Ngài mà các ông từ chối thì chắc chắn các ông sẽ không bao giờ có được cảm nghiệm tuyệt vời đó!

Thiên Chúa không chỉ mời gọi ba môn đệ “đi riêng” với Người cách đây hơn 2000 năm.  Thiên Chúa cũng không chỉ biến hình một lần duy nhất trên núi Tabor.

Thiên Chúa đang mời gọi mỗi người chúng ta “đi riêng” ra một chỗ với Người mỗi ngày trong cuộc sống đầy bận rộn.  “Đi riêng” để Người có dịp cho ta chứng kiến vinh quang của Người, “đi riêng” đến một nơi thanh vắng để nghe được tiếng Thiên Chúa nói trong đáy lòng mỗi người.

Ngài mời gọi và chúng ta có đáp lại tiếng mời gọi để cùng “đi riêng” với Ngài hay không?

Cuộc sống bận rộn cứ mãi vần xoay và chẳng ai tìm đâu chút thời giờ để “đi riêng” với Người.  Phải, kiếp người như con cù, xoay hoài xoay mãi, xoay theo đòi hỏi nhu cầu của xã hội:  Nhà cửa, xe cộ, tiền tài, các hoá đơn chồng chất, sự nghiệp của mình, tương lai con cái …. rồi mỏi mệt nhắm mắt xuôi tay mới chua chát nhận ra rằng “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”, và đôi tay đó đã bóp chết bao kiếp người trong những nhu cầu tầm thường.

***************************

Lạy Chúa Giêsu Chí Thánh, mặc dù cuộc sống đầy những bận rộn lo toan nhưng xin cho con biết thu xếp thời gian để “đi riêng” ra một chỗ với Ngài, để có được những cảm nghiệm riêng tư giữa con và Ngài, để lắng nghe tiếng Ngài nói nơi tâm hồn con.  Chúa ơi, mặc dù “trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ” với Ngài nhưng con biết vinh quang Thiên Chúa thì vô biên không bút mực nào tả xiết, con biết nếu con đáp lại lời mời gọi “đi riêng” với Ngài thì con sẽ được hội ngộ với Ngài ngay từ đời này, xin cho con tin chắc rằng con sẽ được hội ngộ với Ngài mãi mãi trong một ngày gần đây, và xin cho con sống và chết cho niềm tin đó.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

SA MẠC

zzBốn mươi ngày trong mùa Chay nhắc nhớ chúng ta về tinh thần sa mạc trong Kinh Thánh.  Dân Do Thái đã lang thang trong sa mạc bốn mươi năm trước khi vào đất hứa.  Bốn mươi năm trong sa mạc là thời gian để dân Do Thái biết rõ về tương quan của họ với Thiên Chúa, Ðấng đã chọn và yêu thương họ để coi họ có thực sự tin tưởng người hay không.

Sa mạc là nơi rất đặc biệt và thánh thiêng của dân Do Thái, vì chính trong sa mạc dân Do Thái đã gắn bó mật thiết với Thiên Chúa hơn.  Thánh Phaolô nói: “Hành trình trong sa mạc của dân Israel cũng là một biểu trưng cho hành trình của chúng ta đến với Thiên Chúa”.

Tất cả chúng ta phải là những dân riêng của Thiên Chúa, dân của sa mạc trong mùa Chay thánh này. Sống tinh thần sa mạc, kinh nghiệm sa mạc trong Kinh Thánh có thể dạy chúng ta rất nhiều về đời sống tâm linh.  Cha Charles de Foucauld đã chia sẻ như sau: “Tất cả chúng ta phải đi qua sa mạc để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa.  Vì trong sa mạc, mỗi người sẽ khoét rỗng chính mình, loại ra khỏi mình những gì không phải là Thiên Chúa và những gì không thuộc về Ngài, chuẩn bị và trang hoàng tâm hồn chúng ta cho khang trang và thoáng mát cho Chúa ngự”.

Sa mạc trước tiên là nơi để thinh lặng và cầu nguyện, là nơi linh thiêng để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, lắng nghe và đáp lại tiếng Ngài.  Sa mạc cũng là nơi để chúng ta được nuôi dưỡng trong sự an bình của Thiên Chúa và trong cầu nguyện.  Sa mạc là nơi thanh luyện và thánh hiến.  Chúng ta cần sống kinh nghiệm của sa mạc để chúng ta biết rõ mình hơn và đánh giá được mức độ trung thành, mức độ tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa, để chúng ta trực diện với Thiên Chúa trong sự thật về chính bản thân mình.

*****************************

Mùa Chay là mùa chúng ta sống tinh thần của sa mạc, để tôi luyện tâm hồn trong niềm tin và tình yeu, vì sa mạc là nơi để thanh luyện và thánh hiến.  Chúng ta không thể bước ra khỏi sa mạc nếu chúng ta biết mình chưa thực sự hoàn trọn.  Chắc hẳn Thiên Chúa luôn ở trong sa mạc và tâm hồn ta như dân Do Thái trong thời gian ở sa mạc, để chúng ta được liên kết và gắn bó với Ngài. Cũng trong tương quan thân tình đó, chính Ngài sẽ thanh luyện chúng ta trong tình yêu của Ngài.  Chỉ khi sống trong sa mạc của tâm hồn mình, chúng ta mới phải tự lực cánh sinh để cố gắng vượt qua những yếu đuối và bất toàn của mình cũng như nhận ra sức mạnh toàn năng của Thiên Chúa, để chúng ta nhận biết Thiên Chúa đúng như bản tính Ngài mạc khải cho bản thân chúng ta.  Khi đó, chúng ta sẽ lột bỏ khỏi chúng ta những ý tưởng, những hình ảnh giả tạo mà chúng ta có về Ngài.  Tiến trình sống trong sa mạc là tiến trình chúng ta được thanh luyện cái nhìn của chúng ta.  Tiến trình đó cũng giúp chúng ta nhận ra thực tại tốt đẹp theo đúng bản tính mà Thiên Chúa đã mang cho nó.  Những thành kiến bất toàn cũng dần dà bị tước bỏ bởi những kinh nghiệm chúng ta sống với Chúa trong sa mạc.

Ðể sống được tinh thần của sa mạc, đòi hỏi chúng ta phải thực sự là con người trung thực, can đảm và có thái độ thành khẩn.  Phải trung thực là sẵn sàng mở lòng để đón nhận sự thật về Thiên Chúa, con người, các tạo vật và chính bản thân.  Phải can đảm vì phải dám quyết định chọn lựa, có nghĩa là phải bỏ lại đàng sau, phải giũ bỏ tất cả những gì chúng ta đã có.  Không bám víu vào bất cứ điều gì, là chúng ta không để cho bất cứ điều gì cản trở ta làm cho chúng ta không trung thực và sẵn sàng thực sự sống trung thực, dù biết rằng đó là một đớn đau cho tâm hồn.  Trong giai đoạn cần được thanh luyện phải có thái độ thành khẩn vì chẳng có gì chúng ta có thể đạt được nếu chúng ta không thực tình khao khát và mong muốn đạt đến.  Thái độ thành khẩn là động lực giúp chúng ta vượt qua những gian nan thử thách để đạt đến đích của mỗi người chúng ta là chính Chúa, Ðấng là chân, thiện, mỹ.

*****************************

Lạy Chúa,

Mùa Chay như là một nhắc nhở mỗi chúng con hãy sống tinh thần của sa mạc, là sống gắn bó với Chúa cách sâu xa hơn.  Xin giúp chúng con sống trọn vẹn những ngày hồng phúc này trong tình yêu và ân sủng của Chúa cũng như trong sự liên đới với anh chị em.

R. Veritas