CHUYỆN KỂ CHO CON: LỄ TẠ ƠN – THANKSGIVING

Chuyện được kể rằng, có một nhóm 102, gồm cả 35 người thuộc đạo Tin Lành Cải Cách ly khai (Puritanisn separatists) người Anh di cư gọi là Pilgrims Fathers.

Trước đó, bị hoàng đế Anh lúc đó bắt họ phải cải đạo để theo tôn giáo của ông ta.  Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù.  Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ đến và hỏi lần nữa, họ vẫn quyết không cải đạo.  Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi nước Anh.  Vì lý do tín ngưỡng bị đàn áp, họ rời quê hương Anh Quốc, khởi hành vào tháng 9 năm 1620 trên chiếc tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn từ Plymouth.  Đầu tiên, họ đến tạm cư tại Leyden, Hòa Lan (Netherland), nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng.  Do đó, nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân Thế Giới vì họ muốn tạo dựng một thánh địa mới cho tín ngưỡng của họ.

zzTrên chuyến đi sang Tân thế giới, họ đã trải qua bao gian lao, thử thách, gian truân và nguy khốn…  Sau 65 ngày trên biển lạnh, vào ngày 21 tháng 11 năm 1620, tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 hải lý = 1,852m).  Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts).  Khi tàu cập đến được nơi này, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Pelégrine (nghĩa là “người hành hương”).  Tuy biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước sống hòa hợp với dân bản xứ (Narranganset và Wampanoag).  Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư.  Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ với thổ dân da đỏ, nhưng không quan trọng lắm.  Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông đầu tiên vô cùng khác nghiệt và quá lạnh lẽo.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắt khe và thiếu thốn.  Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower.  Trong số người chết có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người).  Trong tình trang khốn cùng đó, như một phép lạ, một thổ dân da đỏ biết tiếng Anh (Năm 1605, được một thuyền trưởng người Anh chở về Anh để học tiếng Anh, sau trở lại làm thông ngôn) đã dẫn một số thổ dân cùng mang bí rợ và thịt gà tây tới giúp, đồng thời chỉ cho họ cách trồng trọt, bắt cá và săn bắn.  Vị cứu tinh đó tên là Tisquanto mà di dân gọi tắt là Squanto.

Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do những người dân da đỏ này cung cấp.  Rồi đến mùa xuân, họ may mắn được những thổ dân da đỏ tốt bụng đến giúp đỡ và cho họ ít lương thực.  Họ bắt đầu học những cách sống và sinh tồn ở vùng đất này từ những thổ dân tốt bụng…  Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ.  Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cám ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống.

Các con thân mến,

Mục đích của ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) là để cám ơn Thượng Đế đã ban phước lành trong năm cho chúng ta.  Đây cũng là dịp nhớ về quá khứ của quê hương, của cả dân tộc, của gia đình và của bản thân mình để cám ơn đất nước, quê hương, con người, xã hội và gia đình đã cho chúng ta có được cuộc sống tốt đẹp trong năm qua.  Do đó ngày lễ Thanksgiving Day thường mang tính cách của việc đoàn tụ gia đình với bữa ăn nấu bằng gà tây (turkey) rất thịnh soạn và ấm cúng.  Ngày lễ này cũng là dịp để người ta suy tư về niềm tin tôn giáo và dành thì giờ và dâng lời cầu nguyện.

Các con thương, chúng ta là cũng thuộc những nhóm di dân cùng đến nước Mỹ, nhưng không giống những di dân khác tìm đường sang Mỹ với phần lớn vì lý do kinh tế.  Người Việt chúng ta ra đi khỏi nước để tìm tự do vì không thể sống được dưới chế độ độc tài – độc Đảng và dòng họ trị, không tự do, phi dân chủ.  Một chính quyền đã quay lưng lại đàn áp và bóp nghẹt dân tộc, và những người đấu tranh cho dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ chỉ vì quyền lợi và ích kỷ riêng mà quên đị cội nguồn, công lao và bao xương máu của tiền nhân và dân tộc đã cố công xây dựng cho giang sơn gấm vóc Việt Nam trường tồn qua bao thế hệ.  Các di dân người Việt chúng ta cũng phải hòa đồng với các tục lệ người Mỹ bao gồm cả văn hóa và đa ngôn ngữ; nhưng bao giờ chúng ta cũng mong cảm tạ đất nước này đã cưu mang chúng ta và cho chúng ta nhận biết được tình người và chiều dầy của sự hy sinh.

Các con thương,

Trong tất cả các tập tục để người Việt chúng ta hội nhập vào xã hội Mỹ, có ngày Lễ Tạ Ơn là một ngày lễ không riêng gì của dân Mỹ, mà chính chúng ta nghĩ là rất quan hệ đến chính mình.  Chúng ta cũng phải tưởng nhớ đến bao hy sinh, bao ân tình của những người đã giúp chúng ta sang định cư nơi đây.  Bỏ qua mọi thành kiến hay chủ nghĩa cá nhân, chúng ta thật tình chân thành cám ơn đến những bà con thân quyến, những cơ quan thiện nguyện, những tổ chức tôn giáo, những người bạn tốt không bà con dòng họ và những người chưa hề quen biết đã bảo trợ, giúp đỡ chúng ta trong những lúc khó khăn ban đầu khi mới tới định cư nơi miền đất tự do, trù phú này và cho chúng ta xây dựng lại mái ấm tình người và cuộc đời.  Xin tạ ơn Trời và tạ ơn người đã cho chúng ta biết thế giới này vẫn còn có những tấm lòng bác ái và có những bàn tay nồng ấm tình thân, tình người.

Có người cảm khái với tình đời và sự vô thường của cuộc sống đã viết:
Hoa đẹp .  .  .  .  .  .  Hoa thơm .  .  .  .  .  .  . . Hoa vẫn tàn
Tình nặng .  .  .  .  .  Tình sâu .  .  .  .  .  .  .  .  Tình vẫn tan
Rượu đắng .  .  .  .  . Rượu cay .  .  .  .  .  .  .   Rượu vẫn hết
Người hứa .  .  .  . . . Người thề .  .  .  .  .  .  .  Người vẫn quên
Trăng lên .  .  .  .  .  . Trăng tròn .  .  .  .  .  .  . Trăng lại khuyết
Tuyết rơi .  .  .  .  .  .  Tuyết phủ .  .  .  .  .  .  . Tuyết lại tan
Người đẹp.  .  .  .  .  . Người xấu.  .  .  .  .  .  .  Rồi cũng chết
Người giàu.  .  .  .  .  .Người nghèo .  .  .  .  .   Rồi cũng hết

Vậy tại sao chúng ta không tạ ơn trời và tạ ơn lẫn nhau khi chúng ta còn hơi sức để mà phục vụ, để mà sống trong yêu thương!

“Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy.
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.”
(Cao Bá Quát)

Trong mùa lễ tạ ơn, chúng ta tạ ơn trời và tạ ơn người nhưng không quên nguyện cầu cho nước mẹ Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam, và cho nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam biết yêu dân yêu nước, dám nhận rõ sự thật của thảm trạng đói nghèo, bất công, lệ thuộc ngoại bang và chia rẽ giai cấp sâu sắc trong cái xã hội gọi là “Đỉnh cao trí tuệ.”  Đảng của giai cấp công nhân và lao động đã nhẫn tâm bóc lột và đẩy họ vào con đường đói nghèo, không dân chủ tự do… mà có sự đổi mới và cải cách đáng kể khi biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân tộc.

Các con thân mến,

Chúng ta cảm thán cho quê hương, dân tộc và nguyện cầu cho giới lãnh đạo Việt Nam biết yêu nước thương dân thật sự, lấy dân làm gốc và luôn làm điều nhân nghĩa thì quốc thái dân an, và trăm họ yên vui chung hưởng thái bình.  Không còn cảnh đói nghèo, bất công.

Chúng ta cũng nguyện cầu cho giới lãnh đạo Việt Nam biết nhận rõ cái sai và dám nhường quyền hành vào trong tay người có tài (không cần phải là Đảng Cộng Sản) nhưng biết thương và lo cho dân thật sự, biết dùng sức mạnh từ cánh tay toàn dân để thanh trừ bọn tham nhũng, bọn hại dân, hại nước và xâm phạm bờ cõi dân tộc, và đừng bao giờ ngủ quên trong u mê là đất nước này chỉ là của Đảng Cộng Sản mà thôi.

Chúng ta luôn cầu nguyện cho mọi người từ ý nghĩa “Thanks Giving” mà biết yêu quí tự do dân chủ, tự do Tôn giáo… đoàn kết và xây dựng xã hội công bằng, và bác ái như các Tiền nhân bao đời đã đem lại cho chúng ta ngày nay.

Thương các con nhiều.
Ngoan Nguyễn

Nguồn: http://www.giadinhnazareth.org/

SỐNG CHỨNG NHÂN

“Tin đạo chứ không tin người có đạo.”  Câu nói này tôi đã nghe nhiều người nói.  Nhưng đáng tiếc không phải là những người ngoại đạo nói mà là những người có đạo nói.  Đa số họ là những người đã lâu năm không tới nhà thờ.  Họ bỏ xưng tội rước lễ.  Họ bỏ đồng đạo.  Họ có đạo nhưng không sống đạo.  Họ mang danh Kitô hữu nhưng lại bảo rằng “đạo tại tâm” nên không thể hiện ra bên ngoài dấu chỉ là người Kitô hữu.  Thế nhưng, họ lại biện minh cho hành động chối đạo của mình là vì chê ghét một ai đó trong đạo.  Họ không đến nhà thờ vì ông A, ông B đã không tốt với họ.  Họ bỏ Chúa vì cha xứ quá khắt khe trong lề luật của Chúa.  Họ không còn xưng tội rước lễ vì bà A, bà B vẫn chứng nào tật ấy có tốt hơn họ đâu?  Họ đòi người khác phải làm chứng cho họ còn bản thân họ thì lại không chịu làm chứng cho tin mừng.  Họ đòi người khác sống tốt còn bản thân họ thì lại nuôi thù oán.  Họ đòi người khác phải bác ái yêu thương còn bản thân họ thì cô lập một mình không gắn bó với giáo xứ.  Họ chính là những cỏ dại đang làm mất đi vẻ đẹp của cánh đồng lúa Giáo hội Chúa Kitô.  Họ chính là những người có đạo nhưng không đáng tin vì tính cố chấp, nuôi thù hận mà bỏ Chúa, bỏ anh em.

Các thánh Tử đạo Việt Nam năm xưa đã lãnh nhận cái chết tử đạo nhiều khi cũng bởi chính những con người mang danh Kitô hữu nhưng đã không còn sống men tin mừng.  Họ đã tố giác anh em vì một chút bổng lộc.  Họ đã bán đứng anh em vì cố chấp trong tội lỗi.  Như trường hợp thánh An-rê Kim Thông, ngài đã bị tố giác bởi chính người cháu tội lỗi, ngang ngược.  Ngài đã từng nhắc nhở người cháu sửa đổi nhưng chứng nào tật ấy.  Hắn đã không sửa đổi mà còn tố giác ngài để cầu vinh.

zzTrường hợp Thánh Phaolô Hạnh cũng thế.  Ngài là một thanh niên nổi tiếng về sự quen biết những tay anh chị trong giới giang hồ tại chợ Quán.  Một lần, chứng kiến một phụ nữ bị đàn em bóc lột không thương tiếc.  Thánh nhân bỗng xúc động ra tay can thiệp, làm áp lực buộc chúng trả lại tất cả những gì đã lấy của nạn nhân.  Vì hành động nghĩa hiệp này, thánh nhân phải trả giá: họ tố cáo ngài ngoài tội là Kitô hữu, còn tiếp tay với quân đội Pháp.  Thánh nhân bị bắt, bị cầm tù, sau cùng bị trảm quyết tại Chí Hoà ngày 28-5-1859.

Trường hợp Cha Thánh Luca Vũ Bá Loan còn đáng thương và cảm động hơn.  Có hai tên tội phạm đang chờ xét xử.  Họ bàn tính với nhau đến bắt Cha Loan để lập công chuộc tội.  Thế là họ đang tâm nộp Cha cho quan huyện Phú Xuyên, nhưng quan không chịu nhận, họ phải đưa Cha về Thăng Long.  Sau cùng, ngày 5-6-1840, Thánh Luca Loan bị chém đầu.

Điểm chung của các thánh Tử Đạo chính là can đảm đón nhận thập giá Chúa gửi đến mà không oán hận kẻ làm hại mình.  Các ngài đã vui nhận hy lễ thập giá vì yêu mến Chúa Kitô.  Các ngài luôn xác tín rằng: những đau khổ đời này không đáng gì so với vinh quang bất diệt mai sau.  Các ngài dầu có chịu khổ hình trong giây lát nhưng được sống lại vinh quang muôn đời.  Đó là điều mà thánh Đaminh Hạnh đã xác tín, khi mà quan triều đình nói với ngài: “Xem kìa, đạo trưởng Duyệt đã chịu bỏ đạo, được tha về, ông cứ làm như thế tôi sẽ tha cho ông.”  Nhưng thánh Đaminh Hạnh bình tĩnh trả lời: “Kẻ trung thành với Chúa, khi chết sẽ được lên thiên đàng.”

Mừng kính các thánh Tử đạo Việt Nam là dịp nhắc nhở chúng ta hãy sống thể hiện niềm tin trung kiên của mình trong mọi tình huống.  Đừng vì một chút cỏ dại lấn át mà chán nản bỏ đạo.  Đừng vì một chút giận hờn mà thù hận cả niềm tin của mình.  Đừng chối đạo vì ghét ai đó, hay đánh mất niềm tin vì bên trong Giáo hội vẫn có cỏ lùng xen lẫn.  Và nhất là đừng bán đứng anh em để cầu vinh.

Ngày nay chúng ta không còn những bạo chúa bách đạo bằng gươm đao súng đạn, nhưng đề sống niềm tin đòi hỏi chúng ta phải chiến thắng chính mình.  Không ai bắt chúng ta bỏ đạo nhưng vẫn còn đó những người bỏ đạo vì chức vụ trần gian, vì lười biếng ham chơi, vì đam mê trụy lạc.  Không ai ngăn cản chúng ta thực hành đạo nhưng vẫn còn đó những người luôn nuôi dưỡng hận thù, luôn bất mãn với tha nhân nên đã sống thiếu yêu thương trong lời nói và việc làm.  Không ai dụ dỗ chúng ta bỏ đạo nhưng nhiều người đã lao vào những con đường tội lỗi, những quan hệ bất chính nên đã không còn xứng đáng mang danh là Kitô hữu.

Quả thực, ngày nay không cần những cuộc bắt đạo những vẫn có hàng ngàn người bỏ đạo vì những danh lợi thú trần gian.  Ngày nay không ai bắt chúng ta bước qua thập giá nhưng vẫn còn đó nhiều người vì danh lợi thú đã tự tháo bỏ thập giá khỏi bàn thờ gia đình, khỏi cuộc sống của mình.  Họ đích thực là loại người mà nhân loại kết án “tin đạo chứ không tin người có đạo”, vì lẽ họ không còn sống niềm tin của mình.

Lạy các thánh Tử đạo Việt Nam, là cha ông chúng con.  Xin cho chúng con biết tôn thờ Chúa trên hết mọi sự, biết noi gương các ngài để thể hiện niềm tin trung kiên của mình trước những cám dỗ lợi lộc của thế gian.  Xin giúp chúng con biết thể hiện niềm tin của mình qua đời sống thánh thiện, bác ái yêu thương.  Amen.

LM Giuse Tạ Duy Tuyền

 

VƯƠNG QUỐC ĐỨC KITÔ

zzNghe bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ nhiều người thắc mắc: Giáo Hội có nhầm không?  Ngày lễ Chúa làm Vua mà lại đọc bài tường thuật cái chết tủi nhục của Chúa.  Thật khó hiểu.

Ta không hiểu, vì trí ta luôn vẽ ra hình ảnh một ông Vua theo kiểu trần gian.  Trong khi Chúa Giêsu đã cho biết: “Nước tôi không thuộc trần gian này” (Ga 18,36).  Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy ba tính cách của Vương quốc Đức Kitô.

Đó là Vương quốc của lòng hiếu thảo.  Thiên Chúa muốn thiết lập Vương quốc này ngay từ buổi sơ khai.  Nhưng ma quỷ phá hoại bằng cách xúi giục con người chống lại Thiên Chúa.  Chúa Giêsu xuống thế để tái lập mối liên hệ Cha-Con giữa Thiên Chúa với loài người.  Người đã sống như một người Con Hiếu Thảo của Đức Chúa Cha.  Sống kết hiệp với Đức Chúa Cha.  Trong Phúc Âm, lời đầu tiên Người nói là nói về Đức Chúa Cha: “Cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con ư?” (Lc 2,49).  Lời cuối cùng của Người cũng hướng về Đức Chúa Cha: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Trọn cuộc đời Người luôn thi hành thánh ý Cha, cho dù có những lúc phải đổ mồ hôi máu mới bỏ được ý riêng mình.  Người đã sống đến cùng tâm tình của người con hiếu thảo.  Trên thập giá, Người đã hoàn tất việc thiết lập Vương quốc ban đầu theo ý định của Thiên Chúa; quy tụ những người con hiếu thảo trong nhà Cha trên trời.

Đó là Vương quốc của sự tự do.  Con người rời xa Thiên Chúa rơi vào vòng tay ma quỷ.  Ma quỷ trói buộc con người bằng những sợi dây nô lệ: nô lệ cho danh vọng, nô lệ cho tiền bạc, nô lệ cho thú tính.  Đức Giêsu xuống trần gian để giải thoát con người khỏi ách nô lệ ma quỷ.  Người cứu con người khỏi mọi thứ sợ hãi.  Người giải phóng ta khỏi mọi áp lực, mọi mặc cảm.  Trọn đời Người nêu gương một đời sống tự do.  Thoát khỏi sự ràng buộc của của cải vật chất, Người sống như một người nghèo: “Con chim có tổ, con chồn có hang, nhưng Con Người không có hòn đá gối đầu” (Mt 8,20).  Người đã chống lại những cơn cám dỗ về quyền lực từ ngày đầu tiên trong sa mạc cho đến phút cuối đời trên thập giá: “Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy biến đá thành bánh mà ăn” (Mt 4,3).  “Nếu Ông là Đức Kitô, hãy xuống khỏi thập giá, chúng tôi sẽ tin”.  Rất tự do, Người đã đi vào cái chết.  Chính khi bị treo trên thập giá, thân trần trụi, mất hết mọi uy tín, danh dự, Người đã phá tung hết mọi thứ xiềng xích nô lệ, khai mạc một triều đại tự do cho con người.

Đó là Vương quốc của tình yêu.  Chúa Giêsu xuống trần để làm chứng về tình yêu.  Rao giảng, thi ân, tha thứ.  Tình yêu lên đến cực điểm trong những giây phút cuối đời khi Người quỳ xuống rửa chân cho môn đệ, khi Người chữa lành tai cho kẻ đến bắt Người, khi Người tha thứ cho kẻ phản bội, và nhất là khi Người cầu xin Đức Chúa Cha tha thứ cho những kẻ giết Người.  Thật là một tình yêu nguyên tuyền không hề vương chút hận thù.  Một tình yêu bao la lan tới mọi góc biển chân trời.  Một tình yêu cao cả đáp lại hận thù.  Thánh giá diễn tả tình yêu Chúa Giêsu dành cho Đức Chúa Cha.  Thánh giá diễn tả tình yêu Chúa Giêsu dành cho nhân loại.  Thánh giá diễn tả tình yêu tha thứ Chúa Giêsu dành cho những kẻ thù ghét Người.

Cái chết trên thập giá là một cuộc chiến thắng.  Chiến thắng của tâm tình hiếu thảo.  Chiến thắng của sự tự do nội tâm.  Chiến thắng của tình yêu.  Chính trên cây thập giá, Chúa Giêsu đã lên ngôi vua.  Chính khi hứa cho người trộm lành vào thiên đàng, Chúa Giêsu đã khai mạc vương quốc của Người.

Vương quốc Đức Kitô đã rộng mở chào đón tất cả mọi người.  Chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của người con hiếu thảo hoàn toàn vâng phục thánh ý Đức Chúa Cha, hãy sống tự do, dứt bỏ mọi ràng buộc của danh, lợi, thú, hãy mở rộng trái tim yêu thương.  Như thế ta mới xứng đáng trở thành công dân trong Nước Chúa.

Lạy Chúa Giêsu là Vua của tâm hồn con, xin nhận con vào Vương quốc của Người.  Amen.

ĐTGM.  Ngô Quang Kiệt

CUỘC LỮ HÀNH TRIỀN MIÊN

Thomas Merton là một trong những tác giả tu đức nổi tiếng nhất trong thế kỷ hai mươi.  Năm lên mười sáu tuổi, Thomas Merton mồ côi.  Năm lên hai mươi tuổi, anh gia nhập đảng cộng hòa Mỹ. Năm hai mươi ba tuổi, anh trở lại công giáo.  Năm hai mươi bốn tuổi, anh trở thành ký giả của báo New York Thời Báo.  Năm hai mươi sáu tuổi, anh thu góp tất cả tài sản vào một cái túi nhỏ lên đường tìm kiếm đến bang Kentucky và trở thành một tu sĩ Trappis tại đan viện Giếtsêmani.  Trong cuốn sách tự thuật có tựa đề “Ngọn Núi Bảy Tầng” Thomas Merton đã kể lại những bước đầu tiên trong cuộc trở lại của anh.  Thomas Merton ghi lại rằng vừa tốt nghiệp trung học anh đã một mình du lịch sang Âu Châu và tại đây anh đã lao vào cuộc sống trụy lạc.  Nhưng một đêm nọ, ngồi một mình trong phòng, anh bỗng nhận ra con người tội lỗi của mình.

zzThomas Merton viết như sau:

“Trong một thoáng, mọi sự hiện ra trước mắt tôi.  Tôi bỗng nhận ra một cách sâu sắc nỗi khốn khổ và sự đồi bại của tâm hồn tôi.  Tôi sợ hãi trước điều tôi vừa thấy và linh hồn tôi tự nhiên khao khát muốn thoát ra khỏi tình trạng ấy một cách mãnh liệt và cấp bách hơn bao giờ hết”.

Thomas Merton cho biết lần đầu tiên trong cuộc đời anh đã cầu nguyện và cầu nguyện thật sự.  Anh cầu nguyện với một Thiên Chúa mà anh chưa từng biết.  Anh xin Ngài từ trời cao hãy đoái nhìn đến anh và giải thoát anh khỏi sức mạnh của sự dữ đang giam hãm linh hồn và thể xác anh trong vòng nô lệ.

*******************************

Câu chuyện của Thomas Merton trên đây minh họa cho sự đổi đời mà chúng ta thường nghe đọc và suy niệm trong mùa Chay này, đó là sự đổi đời của người con hoang đàng được ghi lại trong Tin Mừng theo thánh Luca.

Ðiều gì đã khiến cho con người đổi đời?

Nhiều năm trước đây, các lý thuyết gia về chính trị chú ý đến những bước chân cần thiết để làm một cuộc cách mạng.  Bước đầu tiên là phải tạo ra tâm lý bất mãn trong quần chúng, bởi vì quần chúng sẽ chỉ chấp nhận thái độ khi nào họ bất mãn với tình trạng hiện tại.  Ðiều này cũng đúng cho các cá nhân. Con người chỉ nghĩ đến chuyện đổi đời khi họ không hài lòng với cuộc sống hiện tại.  Ðây là trường hợp của người con hoang đàng và Thomas Merton.

Nói cách khác, bước đầu tiên trong sự hoán cải là cần phải bất mãn với cuộc sống hiện tại của mình. Bất mãn ở đây có nghĩa là khao khát muốn sống tốt đẹp hơn.

Bước thứ hai trong tiến trình đổi đời là một biến cố có sức bật mạnh.  Với Thomas Merton biến cố ấy chính là kinh nghiệm trải qua trong phòng khách sạn khi anh ngồi đối diện với chính mình.

Bước thứ ba trong tiến trình đổi đời là cần phải làm một bước cụ thể trong cuộc sống mới. Thomas Merton đã làm được điều đó. Tuy không phải là một người công giáo, anh đã đi tới nhà thờ, quì gối và đọc kinh lạy Cha.  Sau khi cầu nguyện, anh ra khỏi nhà thờ và đến ngồi trên một ghế đá.  Anh cảm nhận được một sự bình an mà anh chưa từng biết đến.  Nhưng dĩ nhiên, cuộc trở lại của anh đã không dừng lại ở đó.  Từ một con người ngoại đạo trở thành một tín hữu, từ một tín hữu trở thành một tu sĩ chiêm niệm, cuộc sống đối với anh từ nay đã trở thành một cuộc hành trình triền miên.

Sống đạo là một cuộc lữ hành không bao giờ chấm dứt.  Ðây là cảm nghiệm mà cuộc hành trình mùa Chay gợi lên cho chúng ta.  Sống lại kinh nghiệm bốn mươi năm lang thang trong sa mạc của người Do Thái, chúng ta được mời gọi tiến bước từ nguội lạnh đến nhiệt thành, tiến bước từ tầm thường đến mẫu mực.  Không ai làm tín hữu một lần cho tất cả mà phải không ngừng trở thành một tín hữu.

*******************************

Lạy Chúa, với tâm tình hoán cải của người con hoang đàng, chúng con quyết tâm trở về với Chúa. Xin Chúa đừng để chúng con tự mãn với một ít việc lành phúc đức mà chúng con đã có thể thực hành trong mùa Chay này.  Xin cho chúng con luôn được ra khỏi bản thân để mỗi ngày một tiến tới bước đường theo Chúa.

R. Veritas

 

LỜI CỦA CHIẾC DÂY THỪNG

zzTôi thắt cổ Giuđa.  Tôi nghe rõ tiếng khò khè nơi cuống họng nhân vật này.

Nhớ lại đi, ngày Ðức Kitô vào đền thờ Jêrusalem, tôi cũng là chiếc dây thừng.

Ngài lấy giây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ. Tôi nghe rõ những gì xảy ra ở đền thờ ngày hôm đó. Chuyện không đơn giản như nhiều người nghĩ.

Mọi người cứ nghĩ như thế là xong, cứ nghĩ Ðức Kitô ra khỏi đền thờ là xong.  Ai là người buôn bán trong đền thờ?  Còn ai nữa, nếu không được phép của các thầy tư tế.  Ai lọt được vào đền thờ, nếu không có thế lực bảo chứng?  Còn chỗ nào kiếm tiền tốt nhất trong những ngày đại lễ, nếu không là đền thờ?

Tiền bạc là thế lực âm thầm mà cuồn cuộn như dòng sông.  Tôi là chiếc dây thừng trong ngày đó.  Tôi nghe rõ những gì xảy ra:

–  Nhóm tư tế ít thế lực ghen tức với nhóm thày cả có đông tín đồ.

–  Nhóm tư tế quyên tiền gây quỹ được ít, nói xấu nhóm đổi tiền.

–  Các tiền tiêu ngoài chợ phải đổi thành tiền riêng mới được bỏ vào hòm thánh.  Vì thế, nhóm đổi tiền cho công việc của mình mới là chính đáng.

–  Nhóm bán chiên cừu tố cáo nhóm đổi tiền là giả hình.

–  Nhóm tư tế phục vụ bàn thánh bất mãn vì đền thánh chỉ là đền thánh, gây chiến với nhóm chủ trương phải kinh tài.

–  Nhóm nào cũng cho mình mới là đáng tin, họ cạnh tranh nhau.

–  Nhóm tín đồ từ vùng Galilê chủ trương vai trò ngôn sứ là công bố Lời Thánh, tư tế phải trở về bục giảng.  Tín đồ chống đối tư tế.

Giữa lúc xôi đậu như thế Ðức Kitô xuất hiện.

Ngài chẳng thuộc nhóm nào.

Vì không thuộc nhóm nào nên càng dễ chết.

*******************************

Tôi là chiếc dây thừng.

Tôi nghe nhiều bí mật của cuộc đời.  Tôi theo những người nghèo không có tiền.  Họ dắt con bê từ mấy mùa mưa nắng, cắt cỏ chăn nuôi.  Họ vất vả kiếm nước cho nó uống dọc đường dài.  Nắng sa mạc hiếm cỏ.  Những của lễ như thế, quý lắm.  Tôi là chiếc dây thừng, tôi biết rõ lắm về lòng chân thành.  Họ nuôi chúng cả năm trời.

Tôi cũng là chiếc dây thừng người ta vừa mua tôi về cột vào con bê bệnh.  Rất nhiều con vật bệnh hoạn, họ mua về tắm rửa, đem vào đền thờ bán vội cho những người lười không muốn vất vả dắt chiên theo đường dài.  Nhiều kẻ hành hương mua lầm của lễ.  Họ dâng hiến Giavê những chiên cừu bệnh hoạn.  Trong đền thờ ngày đó, đủ thứ của lễ, trong sạch có, què quặt có, lười biếng có, thánh thiện có.

Tôi là chiếc dây thừng, tôi biết rõ về của lễ.  Những ai múc nước, đem cỏ, dắt của lễ theo thì biết rõ của lễ của mình trong sạch.  Còn những người đến đền thờ mới mua, ôi, nhiều của lễ quá bệnh hoạn.  Làm thân dây thừng, tôi khám phá nhiều chân lý về cuộc đời và của lễ.  Tôi thấy rất nhiều của lễ được bao bọc bằng lòng lười biếng.  Những của lễ trong sạch bao giờ cũng phải trả một giá về sự thanh tẩy, lòng cố gắng và nhiệt thành.

*******************************

Không phải Ðức Kitô vào đền thờ đơn giản đâu.  Ngài cũng thấy quyết định này có thể đưa Ngài đến cái chết.  Quả thật, sau này, cái chết của Ngài đã chứng minh điều đó.  Cái chiều nắng quái kinh hồn đó, lũ người này có mặt trên đường Núi Sọ.  Làm sao mà họ không reo mừng, nhớ lại cái ngày bị đuổi khỏi đền thờ, mất chỗ làm ăn.

–  Thưa Thầy, chuyện Thầy tính làm nguy hiểm quá.

Phêrô, người môn đệ thân cận lại can ngăn Thầy mình như mọi khi.

–  Thưa Thầy, con đã thăm dò tình hình. Có cả một ủy ban gây quỹ.  Bao nhiêu năm nay, truyền thống này như lời kinh rồi.

Những ngọn ô liu không gió, đứng im lặng, không thản nhiên vô tư, nhưng chúng cũng không biết phải phản ứng thế nào.  Thỉnh thoảng dăm ba chiếc lá già lìa đời.  Một chút xào xạc bước chân con chồn nhỏ chạy qua.  Ðức Kitô nhìn người môn đệ thân cận.  Không trả lời.  Trong tâm tư Ðức Kitô cũng biết, đó là sự thật.  Người môn đệ này thương mình.  Ðã qua mấy đêm rồi, Thầy trò nói với nhau về đền thờ.

Ðức Kitô hỏi người môn đệ:

–  Bây giờ phải làm sao?

Người môn đệ ấy trả lời:

–  Thưa Thầy, cứ kệ họ.

Ðức Kitô nói tiếp:

–  Nhưng đây là đền thờ.

Người môn đệ đáp trả:

–  Mình cứ lên đền thờ tế lễ theo luật là đủ rồi.

Ðức Kitô không nói gì thêm, nhìn bầu trời đêm không ánh sao.  Những tàng ôliu không gió phẳng lì như những tấm chiếu dán trên khung trời.  Phêrô tựa lưng, ngả đầu vào thân già của cây ôliu đã gẫy, cũng thinh lặng.

Tôi là chiếc dây thừng trong ngày kinh hoàng đó.  Lúc Ðức Kitô cầm tôi quật xuống chiếc bàn của thầy tư tế đang đổi tiền, không ai ngờ, họ hét lên.  Toàn thể kinh hoàng.  Họ không thể ngờ, có người điên mới dám hành động như vậy.  Nhưng điên làm sao được, họ biết rõ người này là ai.  Họ không tin sự việc có thể xảy ra.  Nơi này, người ta đã được phép buôn bán từ xa xưa rồi.  Ai là người dám thay đổi cục diện.  Nhưng Ðức Kitô nói: “Ðừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán.” Khi Người lật nhào bàn ghế, đổ tung hòm tiền thì người ta biết đây không phải chuyện nói cho qua.

Các kẻ thuê đất, các hội trưởng nhốn nháo chạy báo tin cho các thầy thượng phẩm.  Không phải họ xách bàn chạy dễ dàng đâu.  Tôi là chiếc dây thừng.  Tôi bị bọn họ chặt tôi đứt nhiều khúc.  Thân tôi bị giật xé cũng đau đớn tan tác.

–  Giết nó đi.  Ðóng đinh nó đi.

Tiếng kèn báo động như tù và rú trên tháp canh. Ðám đông xúm lại hét to:

–  Ai cho ông có quyền làm như thế?

Họ không dám đến gần Ðức Kitô. Tôi là chiếc dây thừng trong tay Ngài.  Họ nhìn tôi chằm chằm.

*******************************

Làm thân dây thừng, tôi ở trong tay Chúa, cũng như thắt cổ Giuđa.  Tôi dắt những con chiên trong sạch từ vườn nhà, vượt qua đồi, qua suối lên đền thờ.  Tôi cũng bị người ta mua vội thắt vào cổ con bê bệnh hoạn bán cho nhau làm của lễ.  Họ lấy của lễ lừa dối nhau, họ lầm lẫn về của dâng cúng. Tôi nghe những tay lưu manh đứng rình mò trong đền thờ.  Tôi nghe bày thú tranh nhau ăn, cắn nhau đổ máu dính lên người tôi.  Chúng là tiếng sủa thương đau của nhiều loài thú khác nhau.  Những vết máu dính lên người tôi cũng chẳng khác gì những vết thương mà con người mang trong hồn do chính họ tạo nên bởi đam mê tội lụy.  Nơi nào có súc vật mà không có mùi hôi.  Vậy mà tôi thấy những con buôn ngồi thản nhiên hít thở hàng ngày.  Tôi thấy không biết bao nhiêu ý nghĩ về con đường lên đền thờ.

Khi thầy tư tế bán của lễ thì thiên thần đứng khóc.

Khi tín đồ mua của lễ thì quỷ dữ đứng cười.

Khi linh hồn không được thanh tẩy thì của lễ là lười biếng.

Khi của lễ thành buôn bán thì tình nghĩa anh em, bạn hữu chỉ là tính toán.

Khi tâm hồn không siêu thoát thì của lễ thành cạnh tranh.

Khi của lễ là đơn vị kinh tế thì lòng thật thà thành rình mò.

Khi lười biếng che đậy thì của lễ thành trình diễn.

Làm thân dây thừng tôi mới hiểu hơn về con đường tu đức thiêng liêng.  Tôi chỉ kể chuyện đời tôi hai nghìn năm trước.  Hai nghìn năm trước, kể chuyện đời mình cho hai nghìn năm sau.  Thời gian nào cũng có những của lễ, có những chiếc dây thừng.

Chuyện đời tôi hai nghìn năm trước đã qua.  Tháng ngày còn lại, tâm sự tôi đang dang dở.  Hôm nay, tôi cũng vẫn là chiếc dây thừng.  Nhưng Ðức Kitô không có mặt ở đây, nên tôi không rõ có gì đang xảy ra ở đền thờ không.

Nguyễn Tầm Thường, sj – Trích tập suy niệm ÐƯỜNG ÐI MỘT MÌNH

 

HẠT LÚA MÌ

Các đệ tử thường mải mê bàn cãi về những câu hỏi đúng hay sai.  Đôi khi câu giải đáp khá minh bạch.  Đôi khi rất là vu vơ.  Nếu Minh Sư tình cờ có mặt trong các buổi thảo luận đó, ngài không can dự vào.

Một ngày kia các đệ tử hỏi ngài câu này: “Giết kẻ tìm cách giết mình; điều đó đúng hay sai?”

Minh Sư đáp: “Làm sao thầy biết được.”  Các đệ tử sửng sốt trả lời: “Vậy làm thế nào để phân biệt đúng hay sai?”

Minh Sư ôn tồn giải thích: “Bao lâu các con còn sống, hãy giết chết cái tôi của mình, cho nó chết thật.  Rồi hãy hành động như các con muốn và hành động của các con sẽ đúng.”

(Anthony de Mello, Trích từ “One Minute Wisdom”)

***

Bạn thân mến!  Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến sự chết, nhưng lại là sự chết của hạt lúa mì : “Nếu hạt lúa rơi vào lòng đất, mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình.  Còn nếu nó chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt” (Ga.3:24).

Chẳng ai trong chúng ta ngạc nhiên khi nghe câu nói trên đây.  Ðó là luật tự nhiên chi phối cây cỏ, nhưng lắm khi tôi thấy khó áp dụng cho mình. Tại sao tôi phải chết để người khác được sống? Chết để sinh nhiều bông hạt ư ?  Nhưng nhiều bông hạt có ích gì, khi chính tôi bị tan vỡ ?  Chính vì thế tôi không muốn chết như hạt lúa.  Tôi chấp nhận trơ trọi một mình. Tôi cô đơn với tôi, để được yên ổn.  Tôi sợ mất mát, vì mất mát đem lại đớn đau, nên tôi tìm đủ mọi cách để giữ lại những gì tôi có, những gì tôi là.

Tiếc thay, lúc giữ được tất cả, tôi lại thấy mình mất tất cả: mất ý nghĩa của cuộc sống. Tôi như con thú chỉ biết chăm lo cho bộ lông của mình. Dần dần qua những kinh nghiệm đau thương, tôi mới nhận ra rằng: chỉ có một cách giữ chặt, đó là buông ra và tận hiến trao ban.  Tôi bắt đầu “được” khi chấp nhận “mất”.  Sự sống đời đời đã bắt đầu, hạnh phúc đã hé nụ ngay lúc này, ngay ở đây, cho cuộc đời của tôi.

Như con ốc sên, chỉ bò được khi chui ra khỏi vỏ, tôi chỉ giàu có và triển nở mọi mặt khi quảng đại đi ra khỏi lớp vỏ của mình, ra khỏi những bận tâm, tính toán, xây đắp cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa.  Lời kinh Hòa Bình lại vang vọng trong tôi: “Vì chính khi hiến thân, là khi được nhận lãnh,chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân...”

Ðã có những giây phút giằng co, ngần ngại, đã có những cuộc chiến quyết liệt ở trong tôi.  Nếu tôi kiên trì tỉnh thức và cầu nguyện, tôi sẽ thắng được nỗi sợ bị thua thiệt, bị mất mát.  Sau nhiều lần dám liều mất tất cả để rồi ngỡ ngàng thấy mình được lại quá nhiều, tôi sẽ dễ dàng chọn “cái mất trước mắt” như con đường dẫn đến “cái được vĩnh hằng”.

Rõ ràng tiến trình từ khi “hạt giống” được gieo xuống cho đến khi đem lại mùa màng, hay từ khi là “hạt bụi” cho đến lúc trở thành “cát bụi tuyệt vời“, tôi phải trải qua rất nhiều hy sinh, từ bỏ và cả chết đi nữa.  Nhưng hiến thân quên mình, những hy sinh từ bỏ để đón lấy cái chết như hạt lúa mì vùi sâu vào lòng đất… những điều đó đã thực sự làm tôi phải dao động sợ hãi.  Trong hoàn cảnh ấy, Đức Giêsu với bản tính con người đã phải thốt lên:  “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến, Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này.  Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến.” (Ga.3:27) .

Và Đức Giêsu đã vạch ra cho ta con đường sống, sống viên mãn, qua việc kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Cha. Đó là con đường tỉnh thức và kiên trì cầu nguyện. Việc kết hợp cùng Thiên Chúa trong kinh nguyện sẽ đem lại cho ta một sức mạnh phi thường để lướt thắng những nỗi sợ hãi bị thua thiệt mất mát.  Kinh Lạy Cha mà Ðức Giêsu dạy chính là kim chỉ nam cho người kitô, là nhịp cầu giữa “mất” và “được”, giữa “xao xuyến” và “tôn vinh”.

***

Lạy Chúa Giêsu, khi nhìn thấy đồng lúa chín vàng , con ít khi nghĩ đến những hạt giống đã âm thầm chịu thối rữa, mục nát và tan biến đi để trao cho đời cây lúa trĩu hạt.

Có quá nhiều điều tốt đẹp con được hưởng hôm nay là do sự hy sinh quên mình của những người đi trước, của các người rao giảng, của ông bà, cha mẹ, thầy cô, của những người đã nằm xuống để trao cho con niềm tin.  Ðã có những con người sống như hạt lúa, để từ cái chết của họ vọt lên sự sống cho con hôm nay.

Nhờ công ơn bao người, con được làm hạt lúa. Xin cho con đừng tự khép kín lòng mình trong lớp vỏ để cố giữ gìn sự nguyên vẹn vô nghĩa của mình, nhưng dám quên mình và tan biến đi để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ.

Nguyện xin Ðức Giêsu bị đóng đinh kéo con lên với Ngài, kéo con lên khỏi đất, kéo con ra khỏi cái tôi ích kỷ của mình.  Ước gì con dám sống mầu nhiệm vượt qua để đi từ cõi chết đến nguồn sống, đi từ cái tôi hẹp hòi đến cái tôi rộng mở trước tha nhân và trước Ðấng Nhân Từ hằng yêu thương con từ thuở đời đời. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas

 

NGƯỜI HÀNG XÓM

zzGia đình anh chị dọn về chung cư này đã gần sáu năm, tòa nhà chung cư này đã được xây cất gần 50-60 năm, tòa  nhà có bốn tầng, mỗi tầng có bốn căn hộ.  Dĩ nhiên khi ở chung với nhau sẽ có những va chạm, nhất là người dọn đi kẻ dọn vào thay đổi hoài, ngoài hành lang thì mùi thuốc nồng nặc.  Lại thêm vì nhà quá cũ nên không có cách âm tốt, nên mỗi khi nhà bên cạnh hay lầu dưới, lầu trên mở nhạc, tiếng nhạc làm rung chuyển cả căn hộ, có khi cả tòa nhà cũng bị ảnh hưởng nếu nhạc quá lớn. Thôi thì nhịn nhau, xí xóa mà sống vì cùng sống chung với nhau chuyện thường là như vậy.

Một gia đình mới đến ở ngay dưới căn hộ của anh chị, hai vợ chồng và một cậu con trai khoảng 13 tuổi. Và chiến tranh bắt đầu bùng nổ…

Vào một buổi tối có tiếng gõ cửa dồn dập… chị mở cửa và nghe phàn nàn là mình đã làm ồn, chị rất ngạc nhiên vì gia đình  mình vẫn sinh hoạt bình thường không mở nhạc, TV quá to.  Anh chị chỉ có  duy nhất một con trai 10 tuổi rất hiền ngoan nên dù nó muốn nô đùa, chạy trong nhà cũng chẳng biết đuổi bắt với ai!  Họ phàn nàn là bước đi quá mạnh, chạy làm ồn.  Anh chị giải thích sống chung với nhau dĩ nhiên có những điều tối thiểu phải có, nhưng họ vẫn không hiểu và  thông cảm.

Có những bữa cả nhà đang ăn cơm, con trai chị vô tình kéo chiếc ghế ra để ngồi nhưng lập tức bên dưới họ nện đồ lên trần, ý muốn nói là làm quá ồn mà giờ đó là vào khoảng 5 giờ chiều.  Cứ như vậy không khí thật khó thở khi về nhà, cả nhà cố gắng đi từng bước rón rén nhưng vẫn cứ bị chặn lại ở cầu thang hay đấm cửa để mắng vốn.

Nhà là nơi cho mình về để nghỉ ngơi nhưng cứ  nghĩ tới về nhà mà trong lòng lại cứ khó chịu, cảm thấy không được tự do.  Chiến tranh giữa hai bên vẫn cứ âm ỉ…

Cho đến một hôm trời bên ngoài rất lạnh, xe của  người hàng xóm này không thể nổ máy, anh ta loay hoay mãi nhưng không ai giúp đỡ cho anh cả.  Vừa nhìn thấy anh chị, anh vội chạy lại nhờ giúp, chị nhíu mày khi nghĩ tới cảnh hai vợ chồng họ đập cửa nhà mình cằn nhằn.  Chị muốn nói  tiếng không khi chị nghĩ đến khuôn mặt giận dữ của họ:

–  Họ không tốt với mình tại sao mình phải giúp họ?

Nhưng chồng chị nói:

–  Người ta đang cần, mình nên giúp cho họ.

Chị im lặng vài giây và nghĩ: nếu như mình giúp cho người giúp cho mình thì dễ biết bao, nhưng lúc này đây mình giúp cho người mà thường gây chiến với mình thật không dễ dàng chút nào, trong lòng chị vẫn như có cây gai chích nhè nhẹ… nhưng hãy quên đi những chuyện không vui đó đi vì người ta đang cần mình.  Lòng chị dịu lại…

Vài lần sau đó, thỉnh thoảng anh thấy người hàng xóm cần giúp cho xe nổ máy, anh tự ý chạy đến giúp.

Đã mấy tháng rồi anh chị không còn nghe tiếng phàn nàn và đập cửa của họ nữa.  Và chiến tranh được dập tắt từ lúc nào không ai hay…

**********************************

Lạy Chúa , con cảm ơn Chúa đã dạy cho con thế nào là biết yêu thương người khác:

“Anh em hãy nghe luật dạy rằng: Hãy yêu thương đồng loại và ghét kẻ thù.  Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.  Như vậy anh em mới trở nên con cái của Cha anh em , Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt.  Và  cho mưa xuống trên người công chính cũng như người kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì anh em nào có công chi?  Ngay cả người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?  Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em thôi thì anh em có làm gì lạ thường đâu?  Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm được như thế sao?  Vậy anh em hãy trở nên hoàn thiện như Cha anh em trên Trời là Đấng hoàn thiện”. (Mt 5, 43-48)

Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng  ra tha thứ cho người làm hại con, yêu mến những người ghét bỏ con, cho đi những gì con có  vì đó mới chính  là tình yêu thương thật sự mà Chúa muốn con làm vì Danh Chúa.  Amen!

MT

SỰ KIỆN NICÔĐÊMÔ

zzThầy kính mến,

Ông Nicôđêmô, một người trí thức có địa vị và có thiện chí.  Ông len lén đến gặp Thầy vào một buổi tối.

Lần đầu tiên con được thấy Thầy ngồi tâm sự rỉ rả với một người trí thức.  Từ ngoài nhìn vô, người ta tưởng đó là một đôi bạn tri kỷ, hiểu thấu được tâm sự của nhau.  Ai ngờ… ông chẳng hiểu gì hết, khiến Thầy phải thở dài thất vọng: “Ông là bậc thầy trong dân Israen mà không hiểu những chuyện ấy sao?”

Con coi đây là một sự kiện, sự kiện Nicôđêmô.  Sự kiện này làm con phải sửng sốt bỡ ngỡ và bắt con phải suy nghĩ mông lung.

  1. Chắc hẳn Nicôđêmô phải thuộc lòng bộ Cựu ước. Và chắc chắn ông cũng trung thành với luật Môsê một cách tỉ mỉ, vì ông là người đáng kính và là bậc thầy của dân gian.  Cựu ước là con đường dẫn tới Thầy.  Nicôđêmô là hướng dẫn viên đưa dân Do Thái đến với Thầy.  Thế mà khi gặp Thầy và nghe Thầy thuyết giáo về ơn tái sinh, ông lại tỏ ra ngớ ngẩn đến độ buồn cười: “Không lẽ một người đã già rồi mà phải chui vào lòng mẹ để được tái sinh ư?” Ông đã ngớ ngẩn như thế.  Các kinh sư, các Pharisêu khác cũng ngớ ngẩn như thế và hơn thế.  Tại sao vậy?
  • Vì họ tưởng rằng Cựu ước là chân lý trọn vẹn.  Đâu phải vậy.  Chân lý chỉ được mạc khải trọn vẹn trong một mình Thầy mà thôi.
  • Chẳng ai biết được Chúa Cha, trừ ra Chúa Con và những người được Chúa Con mạc khải cho. Thế nhưng họ lại tưởng rằng Môsê và các Sứ ngôn cũng được ơn mạc khải ấy.
  • Họ tin vào truyền thống của cha ông để lại.  Những giá trị của truyền thống chỉ là tương đối mà họ cứ tưởng là tuyệt đối.
  • Họ tưởng họ có chân lý tuyệt đối mà thực ra nó chỉ là tương đối và thay đổi theo không gian và thời gian.
  • Cựu ước và Thầy khác xa nhau vời vợi, thậm chí có khi còn nghịch nhau nữa.  Thánh vịnh 100 đòi tiêu diệt bọn làm ác không sót một tên.  Còn Thầy thì đi tìm con chiên lạc, vác lên vai đem về chuồng, lại còn mời láng giềng đến chung vui (Lc 15).  Thánh vịnh 3 và 11 xin Chúa đánh vỡ mặt, đánh gãy răng, xẻo môi và cắt lưỡi kẻ thù.  Còn Thầy thì dạy phải cầu nguyện và chúc lành cho kẻ thù.  Môsê truyền ném đá người ngoại tình.  Còn Thầy thì thách thức: “Ai trong các ông vô tội, thì lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7)

***********************************

Thầy kính mến,

Thấy Nicôđêmô, một đứa con ưu tú được đào tạo bởi nền đạo đức Cựu ước, con thấy lo âu quá. Khi đọc Cựu ước, đặc biệt là Thánh vịnh, con không dám thả hồn theo tư tưởng đang đọc.  Con thận trọng bước đi.  Vừa đi vừa phát giác những điểm dị đồng với Thầy.  Thành thật mà nói, đọc Thánh vịnh con cảm thấy mình như người đi tìm vàng trên mảnh đất có gài mìn.  Sợ quá! Những tư tưởng như “nhờ danh Chúa, tôi sẽ trừ diệt chúng” nếu không được thanh tẩy trong Tin Mừng thì có thể dẫn đến “khủng bố”.

  1. Nicôđêmô, một thủ lãnh trong Do Thái giáo, mà không dám công khai đến gặp Thầy. Ông phải lén lút đến với Thầy trong bóng đêm. Tại sao?
  • Ông sợ mất quyền lợi.  Quyền thì cao, lợi thì lớn.  Tất  cả đều được xây dựng và củng cố bởi cơ chế Do Thái giáo.  Cơ chế ấy nghiệt ngã vô cùng.  Nó loại trừ để củng cố.  Vạ tuyệt thông là cao điểm của đường lối mục vụ “loại trừ để củng cố” ấy.  Người thu thuế bị loại trừ, thì giữ được lợi.  Còn ông bị loại trừ thì quyền và lợi bay theo mây khói.  Ôi, quyền và lợi!  Đáng sợ vô cùng!
  • Ông không muốn theo Thầy vì ông đã có Thầy là Môsê.  Luật Môsê đã un đúc nên con người của ông.  Ông nghĩ rằng ông đang đi trên chính lộ, ông đang có chân lý: không nên đổi mới, không thể đổi mới.  Nhưng người tin rằng mình đã có chân lý, thì khó mà “có” được Thầy là CHÂN LÝ vĩnh cữu.
  • Ông chỉ mới mến Thầy, chứ chưa yêu.  Ông mới chỉ tin Thầy là một tôn sư được Thiên Chúa sai đến, chứ chưa biết Thầy là Thiên Chúa làm người.  Ông chỉ mới biết việc kỳ diệu Thầy đã thực hiện, chứ  chưa nghe và thấm lời giáo huấn của Thầy.  Lời của Thầy mới là sự sống.
  1. Dù Nicôđêmô không bỏ mọi sự mà theo Thầy, nhưng ông vẫn âm thầm bênh vực Thầy khi có thể. Ông dùng luật Môsê để chống lại những người kết án Thầy mà không theo Luật (Ga 7,50). Ông là người của Thầy âm thầm sống trong nội bộ những người chống Thầy.  Người có thiện chí, thiện tâm thì, ở trong cơ chế nào, cũng là môn đệ của Thầy.

Thầy kính mến,

Trong thời đại của chúng con, con vẫn thấy Nicôđêmô hiện diện ở khắp mọi nơi: Trong những lúc chúng con gặp khó khăn nhất trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng, thì ở ngay trong tổ chức “thế gian”, chúng con vẫn thấy “ông Nicôđêmô”.  Rất lặng lẽ.  Rất âm thầm.  Nhưng rất tích cực che mưa che nắng để hạt giống nảy mầm và lớn lên.

  1. Nicôđêmô không còn sợ hãi nữa. Ông đã mang đến một trăm cân mộc dược, trộn với lô hội, để tẩm liệm xác của Thầy. Ông công khai đứng về phía Thầy, chấp nhận mọi mất mát vì:
  • Ông thấy rõ mọi âm mưu đen tối và bẩn thỉu của Thượng tế và Công nghị.  Lố bịch quá!
  • Ông thương cảm cái chết oan khiên và đau đớn quá đỗi của Thầy.  Chịu không nổi!
  • Lương tâm ngay thẳng của một người trí thức chân chính không cho phép ông sống hèn hơn nữa. Ông phải đến với Thầy trong giờ phút này để tạ tội vì đã hơi hèn.

***********************************

Thầy kính mến,

Chết là một cái giá cao nhất mà một người truyền giáo phải trả.  Chính Thầy đã tâm sự như thế với ông Nicôđêmô trong buổi tối hôm ấy: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời” (Ga 3, 14-15)

Hôm ấy Nicôđêmô không hiểu.  Bây giờ ông mới thấm.  Thầy đã chết cho mọi người và cho riêng ông ấy. Cảm động quá chừng!  Tức tưởi quá lẽ …

Lm. Piô Ngô Phúc Hậu – Dấu Chân Của Thày

ÁNH SÁNG VÀ CÁC MÓN QUÀ

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  (Ga.3:16)

***

Bạn thân mến!  Trên đây là lời nói của Đức Giêsu trong cuộc đàm đạo với ông Ni-cô-đê-mô đã được ghi lại trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Trong cuộc đàm đạo đó Ngài nhắc đến một món qùa:  Món quà cao qúy nhất mà Thiên Chúa đã trao ban cho con người chính là Người Con Một của Ngài . Và món quà cao trọng nhất mà Người Con Một là Đức Giêsu đã ban tặng cho con người chính là mạng sống của Ngài .

Gía trị của món qùa nói lên tình yêu thương của người ban tặng : Món quà càng qúy trọng bao nhiêu thì tình thương yêu càng to lớn bấy nhiêu.

Hôm nay, trong cuộc đàm đạo với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giêsu cũng nhắc đến Ánh Sáng : “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng” (Ga.3:19)

Trong cuộc sống đời thường, khi ở trong bóng tối, người ta đi tìm hộp quẹt, tìm ánh sáng để thắp lên một ngọn nến, một cái đèn dầu.  Nói chung chẳng ai thích bóng tối, vì bóng tối là dấu hiệu của lạc hậu, thiếu văn minh.  Ấy thế mà cũng có những người mê bóng tối.  Bóng tối của quán bia ôm, của Karaokê, của sàn nhảy… Phải bỏ tiền ra để mua được bóng tối.  Bóng tối đồng lõa, che đậy, lấp liếm, làm mặt nạ.  Những bóng tối ấy không chỉ phủ trên thế giới, nhưng còn phủ kín hồn tôi. Trong tâm hồn tôi vẫn còn những ngõ ngách u tối mà ánh sáng Thiên Chúa không soi thấu.  Ðó là những ngõ ngách chứa đựng sự độc ác. Ðó là nơi sự hận thù rình rập. Ðó là nơi tính kiêu căng, gây gổ, chia rẽ, đố kỵ ẩn núp.

Nếu bóng tối là của ma quỉ thì có nhiều phần trong linh hồn tôi còn sống dưới ách của ma quỉ. Còn nhiều phần trong linh hồn tôi chưa thuộc về Thiên Chúa.

Lắm khi người ta từ chối tin vào Ðức Kitô, từ chối đến với ánh sáng và sự thật, chỉ vì đời họ chìm trong bóng tối và giả trá.  Cần thay đổi cuộc sống để tin yêu hơn vào Thiên Chúa, nhưng cũng cần can đảm đến với ánh sáng dù biết mình đang chìm trong bóng tối; hay đúng hơn, vì biết mình nô lệ cho bóng tối mà ta khao khát vươn tới ánh sáng.

Ðừng trốn chạy ánh sáng như Ađam, Evà.  Hãy để cho ánh sáng vén mở chính mình, bắt ta đối diện với sự thật, để rồi ta được rực rỡ trong niềm vui.  Chỉ có một cách duy nhất ra khỏi bóng tối đó là trở lại với ánh sáng bằng cách ngước nhìn lên…

Dân Do Thái xưa trong sa mạc đã được chữa lành nhờ tin tưởng nhìn lên con rắn đồng treo trên cây gỗ.  Ngày nay, chúng ta được cứu độ, được sự sống đời đời là nhờ tin tưởng nhìn lên Ðức Giêsu bị treo trên thập giá.  Thập giá là tột cùng của nhục nhã đớn đau, nhưng cũng là biểu hiện tuyệt vời của một tình yêu.  Kitô hữu không phải là người tôn thờ đau khổ, nhưng là người say mê tình yêu:  tình yêu của Người Cha khi trao ban Người Con yêu dấu, tình yêu của Người Con khi hiến tặng chính mạng sống của mình cho người mình yêu.

Hôm nay, tôi phải đón ánh sáng Thiên Chúa đến soi rọi mọi ngõ ngách u tối trong tâm hồn tôi. Xin Chúa giúp tôi tẩy sạch mọi bóng tối tội lỗi, để tôi thực sự được sinh lại cùng với Ðức Giêsu.

Không những cố gắng trở nên con cái sự sáng, tôi còn có nhiệm vụ đem ánh sáng Ðức Kitô soi chiếu tới anh em. Tôi phải đem ánh sáng tươi vui, an hoà, khiêm nhường, nhịn nhục, yêu thương, đoàn kết đến cho anh em và những người xung quanh tôi

***

Trong Mùa Chay Thánh này,  ước gì tôi biết nhìn lên tình yêu đã  bị treo lên và trở về với ánh sáng để ánh sáng dẫn đưa tôi vào trong tình yêu, để nhờ tình yêu tôi được cứu thoát khỏi cảnh trầm luân đời đời.

Lạy Ðức Giêsu là Mặt Trời Công Chính! Xin hãy chiếu sáng tâm hồn con. Amen

Trích từ R. Veritas

 

THÁNH GIUSE VÀ ĐỨC GIÊSU: CHA SAO CON VẬY

Khi gặp một người con trai có những tính nết, cử chỉ, và lời nói tương tự như ông bố, người Việt Nam hay nhoẻn miệng cười và nói, “Đúng là cha sao, con vậy”. Trong trường hợp của thánh Giuse và Đức Giêsu, nhìn dưới lăng kiếng của Kitô học và tâm lý học, câu “cha sao, con vậy” là một câu diễn tả chính xác về mối quan hệ giữa dưỡng phụ Giuse và Đức Giêsu.

Thánh Giuse thợ mộc của thôn làng Bethlehem là một người sống nội tâm.  Ngài không nói nhiều.  Trong toàn bộ bốn bản Phúc Âm, độc giả Tin Mừng không nghe ngài mở miệng nói một câu nào.  Thánh thợ mộc xuất hiện nhiều nhất trong bản Phúc Âm của thánh sử Mátthêu, đặc biệt trong hai chương đầu tiên. Theo như Tin Mừng Mátthêu 1—2, thánh Giuse chính là hậu duệ của Vua Đavít (1:1-17).  Ngài đã đính hôn với cô thôn nữ cùng xóm Maria.  Nhưng trước khi chung sống, anh chàng thợ mộc khám phá ra vị hôn thê của mình đã có thai.  Trong khi đang bị lương tâm dằn vặt sâu xé với tự ái của một người thanh niên, sứ thần Thiên Chúa hiện ra trong giấc mơ, thông báo cho thánh Giuse biết một kỷ nguyên mới của ơn cứu rỗi đã bắt đầu với thai nhi mà Maria đang cưu mang trong lòng (1:18-25).

zzSau khi Đức Mẹ đã hạ sinh Hài Nhi thánh, sứ thần Thiên Chúa lại hiện ra trong giấc mộng báo cho vị trưởng gia của gia đình thánh biết tin Vua Hêrôđê đang chuẩn bị lên kế hoạch ám hại Hài Nhi (2:13).  Ngay trong đêm đó, Giuse chỗi dậy, mang theo vợ và con, băng ngàn vượt suối, lánh nạn bên đất Ai Cập (2:14).  Thời gian của lang thang nơi đất khách quê người rồi cũng chấm dứt khi sứ thần Thiên Chúa hiện ra một lần nữa trong giấc mộng báo cho Giuse biết Vua Hêrôđê đã băng hà (2:19-20). Nhận được bản tin, thánh Giuse lại khăn gói lên đường, mang vợ cùng con quay về lại cố hương Bethlehem.  Sau cùng, ngài dọn nhà lên Bắc Galilê, định cư tại làng Nazareth (2:23).

Mặc dù thánh Giuse không nói một lời, nhưng qua hai chương đầu tiên của bản Tin Mừng Mátthêu, người tín hữu nhận ra hai cá tính đặc biệt của ông thánh thợ mộc,

(1) Lòng từ tâm,
(2) Niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa.

Bàn về lòng từ tâm, cá tính thứ nhất của thánh Giuse, qua câu truyện anh chàng thợ mộc lúng túng với bào thai của vị hôn thê, người tín hữu nhận ra được tấm lòng nhân hậu của ngài.  Mặc cho tự ái thanh niên réo gọi trong lòng, bởi không muốn máu của vị hôn thê đổ ra lênh láng trước cổng làng, cuối cùng Giuse quyết định yên lặng bỏ đi.

Bàn về niềm tin sắt son của thánh thợ mộc, theo như Mátthêu (1:18-25), sau khi tỉnh cơn mộng, Giuse không hề thắc mắc hay nghi ngờ về tính trung thực của giấc mơ.  Nhưng ngài mang vị hôn thê đang có thai về nhà làm vợ, đúng như lời của sứ thần Thiên Chúa đã truyền dạy (Matt 1:24).  Sau đó, dù là phải bỏ lại đất mẹ, vượt biên sang đất Kim Tự Tháp, tái định cư trên vùng đất lạ, thánh Giuse vẫn không hề quản ngại khó khăn, nhưng nhanh chóng thi hành thánh ý của Thiên Chúa.

************************************

Thần học gia, đặc biệt thần học gia Kinh Thánh, vẫn cứ hay thắc mắc không biết Đức Giêsu cắp sách đi học ở trường nào, Ngài nhận được bao nhiêu điểm A trong lớp Toán, khả năng viết Luận của Ngài ra sao, Đức Giêsu viết chữ đẹp hay xấu, ai đã dạy Đức Giêsu học trước khi Ngài chính thức cất bước lên đường truyền giáo?  Có thể thần học gia của dòng lịch sử Tân Ước sẽ không bao giờ kiếm ra được câu trả lời cho những nghi vấn có liên quan đến thời thơ ấu cắp sách đến trường của Đức Giêsu.  Nhưng, chắc chắn, không ai có thể từ chối được một điều, đó là, thánh Giuse chính là ông thầy đầu tiên của Đức Giêsu.  Thật vậy, người thầy đã khai tâm và dạy dỗ Đức Giêsu của thời thơ ấu và thời niên thiếu không phải là ai khác mà chính là dưỡng phụ của Ngài, thánh Giuse.  Qua dưỡng phụ Giuse, Đức Giêsu đã học được những lời kinh nguyện, những bài Thánh Vịnh, và nghề thợ mộc.  Qua gương sáng của dưỡng phụ, cậu bé Giêsu đã học được nhiều bài học, đặc biệt bài học của từ tâm và niềm tin, hai cá tính đặc trưng của thánh Giuse.  Bởi thế, khi Đức Giêsu ngẩng mặt lên nói với đám đông đang bừng bừng sát khí đòi ném đá một mạng người trên sân Đền Thờ (Gioan 8:3-11), người tín hữu có thể nhận ra đây là một câu chuyện của “cha sao, con vậy”.  Thật vậy, Đức Giêsu nhân từ trong câu chuyện của người phụ nữ ngoại tình trong Gioan 8:3-11 chính là một bản sao của dưỡng phụ Giuse năm xưa, khi ngài chấp nhận yên lặng bỏ đi, bởi không muốn máu đào của vị hôn thê thấm nhuộm đất đen. Trong Vườn Cây Dầu, một lần nữa, câu chuyện “cha sao con vậy” lại xảy ra.  Mặc cho chén đắng gần kề và mồ hôi máu đang tuôn chảy loang lổ, Đức Giêsu vẫn xin vâng và chấp nhận theo thánh ý của Thiên Chúa (Luca 22:42-44).

Bạn thân,

Bàn về mối liên hệ ruột thịt giữa cha mẹ và con cái, người Việt Nam hay nói, “Nhìn quả biết cây”. Trong trường hợp của thánh Giuse và Đức Giêsu, câu tục ngữ này lại càng thêm chính xác.  Mặc dù thánh Giuse không mở miệng nói một câu nào trong Tân Ước, bạn và tôi vẫn có thể nhận ra được lời ăn tiếng nói và cá tính của ngài qua triết lý sống và ngôn từ của Đức Giêsu.  Nhìn “quả” Đức Giêsu, chúng ta nhận ra “cây” thánh Giuse.  Bởi thánh thợ mộc bố đã dạy dỗ, nuôi dưỡng, và chỉ dẫn từng đường cưa, mũi tiện, không ai ngạc nhiên nếu Đức Giêsu, người thợ mộc con (Máccô 6:3), có những phương thế hành xử với tha nhân, điệu bộ, và lời nói giống y như dưỡng phụ của Ngài.  Thật đúng là “Cha sao, con vậy”!

************************************

Lạy Chúa, xin ban cho con tâm thương yêu và tâm bác ái để con biết thứ tha, bỏ qua, quên đi, và xóa nhòa.  Xin ban cho con một niềm tin vững vàng để con biết chấp nhận những nghịch cảnh đã xảy đến trong cuộc đời và biết vâng theo thánh ý của Thiên Chúa như gương của thánh thợ mộc Giuse, dưỡng phụ của Con Thiên Chúa hằng sống.

LM Nguyễn Trung Tây, SVD
www.nguyentrungtay.com