CÂU CHUYỆN BÀ HÀNG XÓM (III)

Muốn đi bước thứ ba này thì phải tập cho được bước một và hai của Câu Chuyện Bà Hàng Xóm.  Bước thứ ba này là tôi đến với bà hàng xóm.  Nếu tôi không đi được bước một và hai thì tôi chỉ đến với bà hàng xóm với một đống lý lẽ, và nếu nói lý nói lẽ thì bà hàng xóm cũng có cái lý nào đó của bà: “Cái mũi của cô tẹt thì tôi nói mũi cô tẹt, anh lùn thì tôi nói anh lùn, bác hói đầu thì tôi nói bác hói đầu, tôi đâu có nói gian, tôi nói ‘sự thật’ mà!”  Đến với một đống lý lẽ chưa chắc tôi đã thắng được cuộc tranh cãi, mà có thắng được cuộc cãi vã thì tôi lời lộc được gì, còn nếu thua cuộc đấu khẩu thì còn thảm bại hơn nữa.  Nếu tôi đi được bước một là nhìn lại mối tương quan giữa tôi với Chúa, và bước được sang bước hai và nhìn bằng ánh mắt tâm hồn để thấy và hiểu tâm hồn bà hàng xóm, cùng cảm thông và cầu nguyện cho bà, thì tôi hãy đi bước thứ ba này, là tôi đến với bà hàng xóm khó ưa.

Tục ngữ Việt Nam ta có câu, miếng trầu làm đầu câu chuyện, đi qua nhà hàng xóm nhờ vả miếng trầu, xin miếng nước trà đâu phải là chuyện trầu chuyện trà, mà là có dịp có cớ để đến với nhau.  Đức Giêsu cũng đã đến với con người qua cách này, Ngài đã nhờ vả: “Chị cho tôi xin chút nước uống!” (Ga 4:7), Ngài xin nước uống chẳng qua là để bắt đầu câu chuyện để rồi chính Ngài là Đấng ban phát.  Muốn nói câu nhờ vả này thì Ngài phải hạ xuống nhiều bậc lắm.  Thứ nhất, là Thiên Chúa mà lại đi hạ mình xin xỏ loài người; thứ hai, là người Do-thái mà lại xin người Samaria; thứ ba, là người nam mà lại xin người nữ, khi văn hóa thời bấy giờ không cho phép; thứ tư, là người công chính mà lại xin người tội lỗi; thứ năm, là người có nước hằng sống mà lại đi nhờ vả thứ nước mau qua.  Là Thiên Chúa mà còn hạ đến thế, huống hồ là tôi.  Nếu tôi không đủ bản lãnh để hạ năm bậc như Đức Giêsu thì thôi tôi chỉ cần hạ xuống một bậc cũng là được rồi.  Tôi hạ mình đến với bà hàng xóm khó chịu với một lời xin. Một lời xin xỏ chẳng qua là để câu chuyện được đi xa hơn trong tình Chúa tình con, và nối lại mối tương quan giữa con người với nhau.  Ngài đã thành công qua sự hạ mình đến với người tội lỗi, và Ngài cũng tin tưởng trao cho mỗi người Kitô hữu trọng trách này.

Chị ơi, hôm qua chị vô tình nói một câu buâng quơ nhưng em bị tổn thương và hôm qua em nghĩ xấu về chị, nên hôm nay em đến xin lỗi chị và xin chị tha thứ cho em.”  Đến mà xin lỗi thì bà hàng xóm khó mà gây sự được.  Nếu tôi nói bà cố tình nói lời như vậy thì chắc bà sẽ thủ thế để dùng một đống lý luận để chống đỡ và bào chữa liền, chỉ có cách là tôi phải hạ mình lân la đến và làm như tất cả là lỗi tại tôi mọi đàng (như tôi thường đấm ngực thình thịch khi đọc kinh cáo mình trong Thánh Lễ đấy mà!) và tôi đến xin lỗi thì mới có cơ may bắt đầu được câu chuyện tình yêu và nối lại mối tương quan với anh chị em.  Khi câu chuyện đã mặn mà, ấm áp rồi, không chừng những vấn nạn, khúc mắc trong tôi cũng như trong tâm hồn bà hàng xóm được giải tỏa, hay là khi chuyện trò đã vui vẻ rồi thì chia sẻ nỗi tổn thương của tôi.  Mục đích chính ở đây là tôi đi gặp gỡ Thiên Chúa của tôi và của bà đó, để trao ban bình an của Chúa cho nhau, và tha thứ cho nhau.

Tôi thấy một Thiên Chúa đang tê liệt trong tâm hồn bà nên tôi muốn đến với bà.  Tôi đến vì yêu, yêu Chúa và yêu như Chúa, yêu con người.  Nếu nói yêu Chúa mà không yêu người thì chẳng qua là lời nói trên môi trên miệng mà thôi, khi yêu thì tự nó phải tuôn trào ra, và càng tuôn trào ra thì tình yêu đó mới có sức sống và trở nên sung mãn.  Chẳng ai chịu yêu thầm rồi đi ngủ cả, khi yêu thì tìm đủ cách để đến gần nhau hơn, như Thiên Chúa đến với con người, như những câu chuyện “trồng cây ‘si’ trước sân nhà tôi” mà ta vẫn thường nghe.

Cách xử sự của con người nói chung, đặc biệt người Việt Nam nói riêng, thì xử sự có tình có lý, mà lúc nào cái tình cũng đi trước cái lý.  Khi đã không có cái tình rồi thì có lý bao nhiêu cũng không đủ, vì bên nào cũng có cái lý của bên ấy.  Đến với nhau bằng cái tình thì êm ái, nhẹ nhàng, và dễ mở lòng đón nhận.  Khi mến nhau rồi thì chuyện gì cũng xong, ca dao ta thường nói: “Yêu nhau trái ấu cũng tròn,” còn ghét nhau thì “trái bồ hòn cũng méo.”

Lúc tôi mở lòng đến, nhưng không chắc lúc đó bà hàng xóm đang mở lòng.  Cho nên khi tôi đến với bà hàng xóm thì tôi cần hiểu rằng không phải lúc nào tôi cũng mở lòng, và bà hàng xóm cũng vậy thôi, nên phải chờ đợi và chọn cho đúng lúc đúng chỗ, nhưng nói chung nếu tôi đến với tâm tình tự hạ mình xin lỗi thì dễ giúp người khác mở lòng đón nhận.

Một điểm gợi ý để anh chị em chúng ta cùng suy tư là tôi phải đến hay tôi muốn đến?  Phải thì có nhiều yếu tố của lề luật và lý trí và nhiều khi chỉ là miễn cưỡng, còn muốn thì phản ánh lên tâm tình của trái tim nhiều rung cảm.  Nếu chỉ sử dụng Phải thì dễ thiên quá nhiều lý trí, mà nếu chỉ dùng Muốn mà thôi thì nhiều lúc chỉ làm vì nổi hứng.  Phải chăng còn cần kết hợp cả hai món quà Thiên Chúa ban tặng là lý trí và cảm xúc để hiểu tôi, hiểu người và hiểu Chúa?

***************************

Lạy Chúa, Chúa đã tin tưởng trao ban cho chúng con một sứ mạng cao cả là thay quyền Chúa để trao ban tình thương và bình an cho anh chị em chung quanh chúng con, xin cho chúng con Tình Yêu và Khôn Ngoan của Chúa để chúng con biết cư xử với nhau như lòng Chúa mong muốn.  Xin Chúa tiếp tục ban Thần Khí Ngài trên mỗi anh chị em chúng con để chúng con đem Lời Chúa Giêsu truyền dạy cho chúng con ra thực hành: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em” (Ga 15:12), Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
May 2, 2009

CÂU CHUYỆN BÀ HÀNG XÓM (II)

Muốn đi được bước thứ hai này thì phải đạt được phần suy tư và cầu nguyện của Câu Chuyện Bà Hàng Xóm I.  Bước thứ hai, là TẠI SAO bà già hàng xóm nói một lời sốc xược, gây hấn như vậy.  Bước thứ nhất là nhìn vào chính mình, còn bước thứ hai này là nhìn ra ngoài từ lăng kính tâm hồn bình an.  Tâm hồn chưa bình an thì khó có thể nhìn được bằng lăng kính này vì đây là lăng kính tâm hồn.

Anh Tư vừa xây xong cái nhà vừa to, vừa đẹp, ai đi qua cũng trầm trồ khen nức nở nên anh thích thú lắm.  Anh Tư đang chờ cuối tuần cha xứ đến làm phép nhà.  Chưa kịp làm lễ tân gia thì nhà anh Bảy bên cạnh có tang.  Cha anh Bảy bị xe tải tông chết, anh Bảy đem xác cha về nhà để làm tang lễ.  Anh Tư cũng đi qua tham dự đọc kinh cầu nguyện chia buồn cùng tang quyến, đọc xong thì ra ngồi uống trà hàn huyên.  Anh Bảy nhìn cái nhà của anh Tư thì buột miệng nói: “Cái nhà của anh Tư vừa sang lại vừa đẹp, chỉ tội một cái là cái cửa chính nhỏ quá quan tài chắc qua không lọt!” Anh Tư nghe bực không?  Có muốn gây không?  Nếu anh Tư mà gây thì quả anh Tư không biết điều, vì không lẽ cái xác của cha anh Bảy còn nằm chình ình giữa nhà như thế đó mà anh đòi gây chuyện à.  Khi anh Tư nghe anh Bảy nói như vậy thì lẽ thường sẽ bỏ qua thôi, vì “tang gia bối rối,” anh Tư thông cảm với anh Bảy vì tâm hồn anh Bảy đang bấn loạn, bất an nên nói “hớ,” chứ như bình thường thì không được đâu nghe.

Anh Tư bỏ qua chuyện vì hiểu và thông cảm với nỗi buồn của anh Bảy, biết anh Bảy đang bất an, nên thay vì gây hấn, ăn miến trả miếng, thì anh Tư thầm cầu nguyện cho anh Bảy được bình an trong Chúa trở lại.  Cũng vậy, nhìn lại câu chuyện bà hàng xóm, khi bà hàng xóm nói một câu đầy đố kị và gây hấn thì tôi nhận biết rằng, tại vì bà hàng xóm đang lòng động lòng lo, tâm hồn đang xao xuyến vì một chuyện nào đó (có thể liên quan hoặc chẳng có liên quan gì đến tôi), nên tâm hồn bà mất bình an, mà mất bình an thì cũng đồng nghiã là thiếu vắng sự hiện diện của Chúa trong bà trong giây phút đó.

Thế giới của tâm hồn và tâm linh chỉ có hai vùng: Ánh Sáng và Bóng Tối như Thánh Gioan diễn đạt ở ngay chương đầu của Tin Mừng của ngài.  Khi bà hàng xóm nói một lời thiếu bác ái hay chỉ trích, có một cử chỉ gây hấn, có một hành động thù nghịch phá rối, thì tôi nhận biết rằng giây phút đó bà hàng xóm đã từ chối Ánh Sáng và Sự Sống để chấp nhận ngụp lặn làm nô lệ cho Bóng Tối.  Tôi không cần biết bà hàng xóm theo đạo gì, có nhận biết Thiên Chúa hay không, thì bà vẫn là con cái của Thiên Chúa và là Anh Chị Em của tôi.  Giây phút bà từ chối Ánh Sáng thì Cha tôi đau khổ và tôi muốn cầu nguyện cho bà được ơn trở lại.

Nhưng nếu nghe câu nói sốc xược của bà hàng xóm tôi đã nổi trận lôi đình thì tôi chẳng học xong bài một, và tôi cũng không thể giúp cầu nguyện cho bà trong bước thứ hai này.  Nếu tôi muốn cầu nguyện cho bà thì đầu tiên tôi phải học và hành bước thứ nhất, để tôi có thể có bình an trong Chúa và bình tâm nhìn ra ngoài bằng đôi mắt của tâm hồn, đôi mắt của thần khí, đôi mắt của Thiên Chúa.  Đôi mắt mà chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nhìn và nói với một nữ tu trong tu viện không ưa chị Thánh và hay muốn tránh mặt: “Chúa Giêsu của em muốn nói chuyện với Chúa Giêsu của chị” (     ). Thay vì lo vận trí động não để tranh luận thắng thua vì một câu nói thoáng qua như cơn gió thoảng, nếu tâm hồn tôi không bị dao động nhiều, vẫn bình an trong Chúa, thì tôi mới có thể nhìn được bằng ánh mắt của tâm hồn, đôi mắt của Chúa, để thấy được tâm hồn của bà hàng xóm.  Còn tôi muốn dùng trí não của tôi, ánh mắt khoa học của tôi để có thể thấy được tâm hồn của bà hàng xóm thì chắc là khó lắm đấy.

Tôi muốn gợi một vài suy tư trong bước thứ hai này để chúng ta cùng cầu nguyện:

  1. Đâu là những chướng ngại vật cản trở tôi nhìn bằng đôi mắt tâm hồn, đôi mắt của Thiên Chúa?
  2. Cái gì giúp tôi trau dồi và phát huy đôi mắt của tâm hồn, của Thần Khí, đôi mắt mà Chúa Giêsu đã nhìn, đôi mắt thấy được Thiên Chúa?

**********************************

Chúa ơi, chúng con thường nhìn bằng đôi mắt thể xác, đôi mắt khoa học, với một đống lý lẽ xem ra có vẻ thuyết phục lắm, và chúng con thường quên lãng đôi mắt tâm hồn mà Chúa ban cho chúng con, chúng con không biết bây giờ đôi mắt tâm hồn của chúng con có còn thấy rõ không, còn thấy được không hay đui mất tiêu rồi.  Đôi mắt thể xác của chúng con hơi mờ một chút là chúng con năng nỗ nào đi rửa mắt, xịt thuốc, đi khám, mang kính, v.v…  xin giúp mỗi người chúng con cũng biết quan tâm đến đôi mắt tâm hồn của chúng con hơn để bắt đầu tập nhìn bằng ánh mắt bên trong tâm hồn. Amen.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
April 10, 2009

P.S: Còn tiếp phần ba.

YÊU THƯƠNG

Dọc theo triền núi Trường Sơn, có một ngôi mộ đã lâu đời, trên bia mộ có khắc dòng chữ: “Tôi yêu thương người, nhưng rất sợ lòng người”.  Đây là câu nói của Hy Thanh, người chết nằm dưới mộ sâu.  Nhưng tại sao lại khắc dòng chữ đó trên mộ của anh ta? Câu trả lời được dựa trên câu chuyện sau đây:

Thời bấy giờ, Hy Thanh chịu khó đi học nghề tìm mạch nước.  Bạn bè khinh chê: “Dưới đất lúc nào chẳng có nước, học chi cái nghề vô dụng ấy”. Gia đình cũng chửi rủa chàng: “Học cái nghề vô ích ấy làm gì, đi đâu thì đi”.  Hy Thanh ra đi, ngày kiếm ăn, đêm tìm đến chùa ngủ, cắn răng chịu đựng và vẫn tiếp tục theo đuổi cái nghề tìm mạch nước ấy.  Mười năm trôi qua, gặp thời đại hạn, giếng khô cạn, nhiều người chết vì khát.  Lúc bấy giờ người ta chợt nhớ đến Hy Thanh, chạy tới chàng để cầu cứu .  Hy Thanh tìm ra mạch nước, nước chảy lênh láng khắp nơi.  Dân chúng từ bốn phương hay tin đến uống, họ vui mừng ca ngợi chàng.  Tuy nhiên, có kẻ vì khát lâu ngày, nay uống quá độ nên ngã lăn ra chết.  Người ta quay lại mạt sát chàng, những người có thân nhân bị chết xông vào đánh đập chàng cho đến chết.  Trước khi chết, Hy Thanh thốt lên: “Tôi yêu thương người, nhưng rất sợ lòng người”.

***

Bạn thân mến!  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến hai chữ yêu thương: “Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga.15:12)

Yêu thương không những là một lời khuyên mà còn là một lệnh truyền của Chúa Giêsu, là đặc điểm của những người theo Chúa, là sứ mệnh của mỗi người Kitô.

Không còn nhầm lẫn nào nữa.  Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, ta phải yêu như Chúa yêu.  Tình yêu của Đức Giêsu không phải tự Ngài nghĩ ra, không phải phát xuất từ chính Ngài, nhưng bắt nguồn từ Chúa Cha: “Như Cha đã yêu mến Thày thế nào, Thày cũng yêu mến anh em như thế”. (Ga.15:9).

Thế là đã rõ:  Tất cả bắt nguồn từ cùng một tình yêu.  Chúa Cha là nguồn cội. Từ nguồn mạch ấy, tình yêu tràn ra đến mọi người; lan toả ra khắp thế  giới.  Yêu thương là không làm cho nó ngừng lại thành ao tù.  Thế giới hôm nay đói khát tình yêu đích thực.  Môn đệ Ðức Kitô phải là chứng nhân tình yêu, yêu như Chúa đã yêu, yêu bằng tình yêu lớn nhất.

Tình yêu là cốt lõi của đời sống Kitô.  Tất cả điều răn của Kitô giáo được tóm gọn trong hai chữ yêu thương : Yêu Chúa và mến thương tha nhân như chính mình.  Yêu thương người anh em thân cận với mình chính là thước đo tình yêu Thiên Chúa, vì nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối” (1Ga.4:20).

… Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau”. (Ga.15:17).  Đó là những dòng chữ cuối cùng trong bài Tin Mừng hôm nay.  Đó cũng là lời trăn trối mà Đức Giêsu đã truyền dạy cho các môn đệ trước khi Ngài lên đường chịu khổ hình.  Đó cũng là lời mời gọi vang vọng từ trời cao mà Chúa Giêsu đã và đang gởi đến mỗi người chúng ta hôm nay.

Nói yêu thương  bao giờ cũng dễ, nhưng chính khi thực hành yêu thương ta mới thấy hết những nét quyết liệt của lời mời gọi này.  Mỗi lần trái tim ta khô héo và chai cứng, hãy trở lại với Ðức Giêsu để nhận lấy sức mạnh của yêu thương, hãy về bên Ngài như suối nguồn để được tưới đẫm yêu thương.

***

Lạy Chúa!  Xin cho con hiểu được tình yêu của Chúa dành cho con: tình yêu của người đã thí mạng sống của mình cho người mình thương (Ga.15:13).  Xin cho con biết mở lòng đáp trả bằng một tình yêu trung tín đối với Chúa, và bằng tình yêu chân thành đối với người anh em thân cận với con, để con biết “yêu như Chúa yêu” và “yêu người như yêu Chúa”. Amen

(Tổng hợp từ R. Veritas)

 

 

 

CÂU CHUYỆN BÀ HÀNG XÓM (I)

Hai vợ chồng kia dọn đến xóm nọ, mới sáng sớm không biết bà già hàng xóm ăn mắm ăn muối gì mà chĩa cái miệng qua nói: “bà vợ mũi tẹt xấu ịch!”  Cô vợ bực lắm nhưng ráng nhịn, đến chiều thì cơn bực tăng dần và trở thành giận.  Cô giận tím gan đến độ ăn cơm nuốt không trôi, ngủ cũng không yên được, càng ráng quên thì lại càng ức, và cô mất bình an hoàn toàn đến nỗi không thể nói chuyện được với chồng.

Câu chuyện này nghe như lạ đời lắm, nhưng tôi thấy nó giống tôi như khuôn như đúc vậy.  Tôi nói cuộc tình của tôi và Chúa khắn khít lắm, thế mà chỉ một lời nói buâng quơ của bà hàng xóm thoáng qua cửa sổ tâm hồn tôi mà tôi đã bấn loạn cả tâm can, rối tứ bề, mất bình an hoàn toàn đến độ không thể nói chuyện với Chúa.

Mời anh chị em cùng tôi nhìn câu chuyện này qua ba bước suy tư để cùng nhau cầu nguyện.  Bước thứ nhất là nhìn vào bên trong chính mình.  Trước khi bà già hàng xóm nói lời chói tai kia thì thật ra tôi có bình an thực sự trong Chúa thật không, một thứ bình an Chúa ban tặng mà người đời không thể cho hoặc lấy đi, hay tôi chỉ có một thứ bình an giả tạo mà Đức Giêsu thường ví như là đồ “mồ mả tô vôi.”  Nếu chỉ mới một cơn gió thoảng qua cửa sổ nhà tôi, mà tôi đã giãy đành đạch làm như sắp chết thì có vẻ như tôi không có sự bình an trong Chúa thật sự.  Vì bình an gì mà mới một cơn gió thoảng mà đã tiêu tan, mà nếu có chăng nữa thì chắc mong manh lắm, hay là tôi chỉ có một loại bình an nhân tạo, như một lớp sơn bóng bẩy che lấp cả đống mồ mả tối tăm bên trong.

Nếu vậy thì tôi cần phải nhân cơ hội vì lời thiếu bác ái của bà hàng xóm để nhìn lại mối tương quan, liên kết với Chúa, thay vì mở cái loa phóng thanh ra phán lại vài câu cho hả dạ, hay là ráng nhịn.  Góc độ ở đây không phải là nhịn cho qua chuyện, vì nhịn miết rồi thì cũng sẽ có ngày nó phát nổ mà thôi.  Còn nếu nói qua nói lại, giả sử như tôi thắng cuộc tranh cãi đi nữa thì tôi được lời lãi gì.  Ở đây, tôi được mời gọi nhìn lại mối dây nối kết với Chúa như thế nào mà tôi dễ bị bức xúc vì những cơn gió thoáng qua cửa sổ lòng tôi như vậy.  Phải chăng sự liên kết giữa tôi với Chúa chỉ mỏng manh như một cọng dây chì, nên chỉ một cơn gió nhẹ thổi qua là đã đứt dây, đứt bóng, mất bình an và xa Chúa, vì nếu có Chúa hiện diện thì dấu chỉ đầu tiên là tôi được bình an.  Nếu vậy thì tôi cần phải đan kết với cuộc tình với Chúa và con như mười, hai mươi sợi dây chì, để rồi những cơn gió thổi thoảng qua có thể chỉ đứt một hai cọng dây chì thôi, nhưng tôi vẫn còn nối kết với Chúa với tám chín sợi dây chì còn lại trong bình an và sự hiện diện của Ngài.

Ở bờ biển thì lúc nào cát và rác rưởi ở dưới đáy bị xáo trộn lên trên mặt nước vì bờ biển chỉ cạn một thước nước.  Người môn đệ theo Chúa cần đào luyện và kết hiệp với Chúa như ở độ sâu mười, hai mươi thước nước để gió biển vẫn thổi, sóng biển vẫn dập dìu, và chỉ có lớp nước trên mặt bị chao động, nhưng ở dưới đáy biển sâu vẫn bình thản ung dung.  Mà có bao giờ gió hết thổi đâu, có bao giờ biển lại hết sóng, chẳng qua là gió mạnh hay yếu, sóng to hay nhỏ mà thôi.  Người Kitô yêu mến Chúa và theo Chúa thì cần phải nối kết mối tương quan với Chúa như mười sợi dây chì, như mười thước nước sâu.

Những lời nói xỉa xói, bất bình; những cử chỉ gây hấn, chia rẽ; những hành động lỗ mãng, thù nghịch, thiếu bác ái có bao giờ hết đâu, lúc nào nó cũng thoáng qua cửa sổ tâm hồn tôi.  Người nông nỗi thì ăn miếng trả miếng, chớ nhịn thì chúng khinh rồi làm tới.  Người khá hơn một chút thì tìm cách chặn bên này, cản bên nọ chống đỡ những cơn gió thoảng, chống bên kia những cơn sóng vỗ, mà có bao giờ cản được hết gió, chặn được hết sóng.  Loại người thứ ba thì biết dùng những lời chê bai để nhìn lại mối liên kết với Chúa.  Gió vẫn thổi, sóng vẫn vỗ, nhưng loại người thứ ba này vẫn bình an tự tại.  Được khen thì cũng vui dăm phút, bị chê thì buồn vài phút, nhưng không vì những lời khen tiếng chê mà làm lòng bị dao động mất bình an vì tâm hồn vẫn sống kết hiệp trong Chúa và với Chúa.

*********************************

Lạy Chúa, chúng con yếu đuối và mỏng dòn quá sức, chỉ một cơn gió thoảng của bà hàng xóm ăn mắm ăn muối thổi qua nhà là chúng con đã bị động lòng.  Xin Chúa tiếp tục dạy dỗ những đứa con thích quay ngang quay ngữa nên hay lạc lối, ham thích bám víu vào những chuyện đâu đâu bên ngoài mà quên mối tình của Chúa đã dành cho chúng con, cuộc tình mà chính Chúa đã chấp nhận chịu chết để chúng con được sống.  Lạy Chúa, xin Tình Yêu của Chúa chiếm trọn tâm hồn mỗi người chúng con, là những môn đệ yêu mến Chúa, muốn theo chân Chúa, và muốn đáp trả tình yêu Chúa đã ban tặng nhưng không. Amen.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
April 9, 2009

P.S: Vì đề tài này dài, nên tôi sẽ viết bước suy tư II và III vào các bài chia sẻ khác.

CẮT TỈA

“Thương con cho roi cho vọt…”.  Hẳn Thiên Chúa Tình Yêu cũng áp dụng nguyên tắc này khi muốn cho con cái mình được gắn kết với Ngài cách mật thiết, lớn lên cách mạnh mẽ, và sinh hoa kết trái cách dồi dào.  Chỉ vì yêu thương, Thiên Chúa áp dụng mọi phương thức và không loại trừ một giải pháp nào.  Ngài thanh luyện, Ngài đẽo gọt, Ngài cắt tỉa.

Nhưng có sự cắt tỉa nào mà không ray rứt, có cuộc sinh nở nào mà không thương tổn?

Bạn thân mến,

Thật trớ trêu, khi nói đến mầu nhiệm sự sống thần linh thông chuyển cho những ai nên một với Ngài, Chúa Giêsu không dùng hình ảnh nào khác ngoài hình ảnh thân nho và cành nho, một biểu tượng của sự gắn bó, gần gũi và xoắn xít lẫn nhau; đồng thời Ngài cũng nói đến việc cắt tỉa: Thầy là cây nho, chúng con là cành, cành nào kết hợp cùng cây sẽ trổ sinh hoa trái, và “cành nào sinh trái, Cha Thầy, người trồng nho, sẽ cắt tỉa để nó sinh trái nhiều hơn”.

 Vậy thì, để cành nho có thể gắn bó mật thiết với thân nho, có thể hưởng nhận sức sống hầu có thể có được một mùa bội thu, cắt tỉa là điều không thể miễn trừ; và lạ thay, càng được cắt tỉa, càng có cơ may sinh nhiều hoa trái.

Những tháng mùa đông, các cây trồng cần được cắt tỉa, một quá trình gây thương tổn nhưng không có nó, chủ vườn sẽ không loại được những chồi dư, cành thừa vốn sẽ làm tiêu tốn sức sống của cây. Mục đích của việc cắt tỉa không phải là bắt cành cây phải chịu đau đớn nhưng là giúp cây có cơ may trổ sinh nhiều hoa lộc.

Ấy thế, mỗi chúng ta, mỗi cành nho của thân mình Đức Kitô, Cây Nho Đích Thực, đều cần được cắt tỉa.  Thiên Chúa Chủ Vườn, người Cha khôn ngoan đang cắt tỉa chúng ta mỗi ngày:

* Cắt tỉa bằng Lời Chúa, vì Lời Ngài sắc bén tựa gươm hai lưỡi, xé nát tâm hồn và dò xét tâm can.

* Cắt tỉa bằng sự thiêu rụi của Thánh Thần, vì mọi sự sẽ phải qua lửa.

* Cắt tỉa bằng những biến cố lớn nhỏ trong đời, vì mỗi sự kiện có thể là một cuộc thi luyện lòng quảng đại.

* Cắt tỉa bằng những con người, những cộng đoàn, vì tha nhân là dụng cụ Thiên Chúa dùng để mài giũa ta.

* Cắt tỉa bằng tiếng kêu ơi ới mỗi ngày của lương tâm, vì ở đó có vị Thẩm Phán Tối Cao.

Cắt tỉa được thực hiện mỗi ngày, mỗi giờ và nhiều lúc Chủ Vườn phải chuẩn bị hàng năm, đôi khi cả hàng chục năm.  Đến thời đến buổi, Ngài ra tay.  Và một khi Ngài ra tay, có thể bấy giờ không còn đơn thuần là cắt tỉa chăm chút, nhưng đôi lúc, đó thực sự là một cuộc đại phẩu bán sống bán chết, một mất một còn cho niềm hy vọng vụ mùa bội thu mai ngày.

Lần giở các trang Kinh Thánh, chúng ta đọc thấy biết bao lần Thiên Chúa đã cắt tỉa: cắt tỉa cá nhân, cắt tỉa cộng đoàn, cắt tỉa cả một dân tộc, cắt tỉa mọi con cái loài người Ngài đã dựng nên. Với Abraham, “Hãy đem Isaac con một ngươi lên núi hiến tế Ta”; với ông Job, Ngài lột sạch, “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó trần truồng”; với Đavid, Đức Chúa đã bóp mũi đứa con đầu lòng của ông với bà Batseva, vợ Uria; với Phaolô, Ngài vật ngã ông trên đường Đamas, cho ông tơi bời ê ẩm đến mù cả mắt; và với Giêsu Con Một Yêu Dấu, Ngài cũng không miễn trừ, ngược lại, đã để Con mình thành mẫu mực bị cắt tỉa đến độ phải thốt lên trên cây thánh giá: “Cha ơi, Cha ơi, sao Cha bỏ con?”.

Này bạn,

Bằng cách nầy cách khác, Thiên Chúa Tình Yêu nhân từ và khôn ngoan sẽ bứng cho bằng được cái ung bướu xơ cứng mãn tính vốn đang di căn nơi nhân cách, nơi linh hồn, nơi con tim hoá thạch của mỗi người chúng ta.  Đau đớn thay! Xót xa thay! nhưng không còn chọn lựa nào khác, Ngài buộc phải làm. Ngài xô con người xuống tận vực sâu, nhận nó xuống bùn đen, tung nó lên như tung bóng; Ngài lột trần nó ra, phơi bày tô hô dưới ánh mặt trời những gì vay mượn, những gì che đậy và những gì trói buộc khiến nó không thể sinh hoa kết trái như Ngài hằng chờ mong.

Chỉ vì yêu thương, Thiên Chúa quyết định ra tay.  Ngài thấy rằng, qua bao mùa nho, trái trăng Ngài mong chỉ toàn là những quả giả: mơn mởn nhưng ít ỏi, bóng loáng nhưng chua lè, tất cả chỉ vừa đủ để tô điểm một khu vườn bát ngát của ích kỷ, mênh mông của vụ lợi, và đại ngàn của hám danh… đang khi điều Ngài chờ mong lại là hoa của công chính, trái của bình an và quả của hoan lạc trong Thánh Thần.

Nói đến đây, ai trong chúng ta khỏi phải rùng mình sởn gai ốc khi nhớ lại ít nữa một lần trong đời được Thiên Chúa cách nầy cách khác cắt tỉa và chặt phăng.  Ngài chặt phăng không tiếc xót một cái gì đó, một ai đó mà Ngài thấy cần thiết cho linh hồn, cho nhân cách, cho sự lớn lên và nhất là cho chúng ta được nên một với Ngài.  Một cái gì đó, một ai đó vốn đã làm thất thoát hay làm tắc nghẽn mạch sống thần linh của Con Một Ngài khiến chúng ta không tiếp nhận được nhựa sống đó và rốt cuộc, không sinh được hoa bác ái, không kết được trái yêu thương.

Bạn thân mến,

Bằng mọi cách, Thiên Chúa đã cắt tỉa, uốn nắn mỗi người chúng ta.  Hãy thâm tín rằng, dù có nhức nhối đến đâu, dù có thương tổn đến mấy thì Ngài vẫn là một Thiên Chúa từ ái và khôn ngoan, kiên nhẫn và đại lượng.  Ngài làm mọi sự chỉ để mưu ích cho phần rỗi chúng ta, hầu chúng ta có thể gắn kết mật thiết với Ngài; sung mãn nhựa sống của Ngài hầu sinh hoa kết trái. Để rồi, khi nhìn lại, chúng ta ngạc nhiên tự hỏi tại sao mình còn đây, tại sao Ngài vẫn nương tay? Và chúng ta sẽ thấy, thì ra, Ngài thật tuyệt vời, thật nhân hậu và bấy giờ, chỉ còn một việc, một việc mà thôi: quỳ gối mà tạ ơn.

Lạy Chúa, Chúa luôn nhắm điều tốt nhất cho con, con sẽ không lãng phí những đau thương trong đời. Xin cho con biết lãnh hội những bài học ngàn vàng rút ra từ những kinh nghiệm rướm máu mỗi khi được cắt tỉa; cho con biết gieo mình vào vòng tay yêu thương và khôn khéo của Chúa cả khi không còn gì để mất; biết khiêm tốn nhận ra thánh ý Chúa qua từng biến cố, từng con người được Chúa phái đến để cắt tỉa con, hầu con có thể sinh hoa kết trái, hoa trái của Thánh Thần, hoa trái của lòng yêu mến mà Chúa và anh chị em con đang mỏi mắt trông chờ, Amen.

Lm. Minh Anh (Gp. Huế)

SINH NHIỀU HOA TRÁI

Ai trồng cây cũng mong được ăn quả. Muốn có quả, cũng phải lắm công phu. Không phải cứ xanh tốt lớn mạnh là có quả. Có những ruộng lúa xanh tốt, nhưng chỉ tốt lá, nên chỉ cho những bông lúa lép. Có những cây xum xuê cành lá, nhưng đến mùa chẳng thấy quả nào. Xanh tốt như thế không phải là thành công, nhưng là thất bại. Cành lá chỉ là phụ, hoa quả mới là chính. Được điều phụ mất điều chính, đó là thất bại. Đức Giêsu quan sát cây nho và thấy rằng một cây nho muốn có nhiều hoa quả cần phải có hai điều kiện sau đây:

Điều kiện thứ nhất:

Cành phải liên kết với cây. Cành không liên kết với cây, không thể sinh hoa kết quả. Cành không liên kết với cây khi dòng nhựa nuôi dưỡng thân cây bị tắc nghẽn không luân lưu sang cành. Có những con sâu con bọ đục khoét làm cho cành cây bị thương tổn, không còn tiếp nhận được nguồn nhựa sống của thân cây truyền sang. Chỉ khi cành kết hiệp chặt chẽ với cây, dòng nhựa từ cây mới truyền sang cành, cho cành trổ sinh hoa trái.

Điều kiện thứ hai:

Cành lá phải được cắt tỉa. Ai đã trồng nho thì biết: Nếu cứ để cành lá phát triển tự do, cây sẽ xanh tươi coi rất đẹp mắt nhưng không có hoa trái. Muốn cây có quả, phải tỉa bớt cành lá. Việc cắt tỉa làm cho dòng nhựa không bị phân tán, nhưng tập trung vào những cành chính, dồn vào cho hoa sung sức, cho quả đầy đặn.

Đức Giêsu muốn dùng hình ảnh cây nho để nói về đời sống đạo của ta. Đời sống của ta được sánh ví như đời sống của cây nho.

Cũng như người trồng nho muốn cho vườn nho của mình không bị tàn lụi, nhưng phát triển, sinh hoa kết quả, Đức Chúa Cha đã tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi, nhưng để con người phát triển, sinh hoa kết quả và tồn tại.

Để được phát triển, con người cũng cần những điều kiện.

Điều kiện thứ nhất:

Phải kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu. Như cành nho phải liên kết với thân nho mới sinh hoa kết quả, ta phải liên kết mật thiết với Đức Giêsu. Người là nguồn cội sự sống của ta. Tách lìa Người, ta không thể sống, càng không thể phát triển được. Người là dòng sông ân sủng. Khi ta kết hiệp với Người, ân sủng tuôn đổ vào linh hồn, làm cho ta được sống và sống sung mãn. Ân sủng thấm nhập nội tâm, uốn nắn tình cảm, củng cố ý chí, sinh ra những hoa trái thiêng liêng trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Sự kết hiệp mật thiết với Chúa làm cho ta sống sự sống của Người, nói lời nói của Người, hành động theo gương của Người, phán đoán theo chuẩn mực của Người, nhìn con người và sự việc bằng cặp mắt của Người, yêu thương bằng trái tim của Người. Khi sự kết hiệp đã đến mức hoàn hảo, chính Người hành động qua ta và vì thế, những hoa trái sẽ vô cùng phong phú.

Điều kiện thứ hai:

Phải chịu cắt tỉa. Cành nho muốn sai trái phải chịu tỉa bớt những cành lá rườm ra. Cũng thế, linh hồn phải để Chúa cắt tỉa những gì dư thừa cản trở ơn thánh sinh hoa kết quả. Phải cắt tỉa những ý muốn riêng tư để chuyên tâm tìm thánh ý Thiên Chúa. Phải cắt tỉa những hình thức bề ngoài để chìm vào nội tâm sâu lắng. Phải cắt tỉa những phô trương quyền lực để mặc lấy tâm tình đơn sơ khiêm nhuờng. Chúa cắt tỉa ta bằng những thất bại ta gặp phải. Chúa huấn luyện ta bằng những lời phê bình chỉ trích của những người chung quanh. Chúa mãi dũa ta bằng những nghi kỵ hiểu lầm của người khác. Chúa đào tạo ta trong những phản bội của người thân tín. Việc cắt tỉa làm cho ta đau đớn, nhưng đem lại những lợi ích vô cùng phong phú.

Chính Đức Giêsu đã làm gương cho ta khi Người sống kết hiệp mật thiết với Đức Chúa Cha. Sự kết hiệp ấy được diễn tả qua việc Người chuyên tâm cầu nguyện và luôn luôn làm theo ý Chúa Cha. Người đã để cho   ta. Chính vì thế, Người đã trở nên gốc nho sung mãn sự sống để chuyển thông cho chúng ta.

***

Lạy Đức Giêsu là Cây Nho Thật, xin cho con biết kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin hãy cắt tỉa những gì vô ích trong con để con sinh nhiều hoa trái thiêng liêng như Chúa mong ước. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

 

 

MỤC TỬ HAY CHĂN THUÊ?

Bạn thân mến,

Thông thường mỗi khi nghe nói về người chăn chiên, chúng ta hay liên tưởng đến hình ảnh thường được các nghệ sĩ diễn tả qua tranh ảnh hoặc thi ca.  Và thường đó là một hình ảnh khá thơ mộng: người mục tử vác một con chiên nhỏ trên vai.  Trong thực tế, chẳng ai làm chuyện đó, bởi vì chiên là một thứ súc vật hôi hám bẩn thỉu, mang nhiều mầm bệnh.  Chăn chiên là một công việc vất vả, dầm sương dãi nắng.  Một thứ nghề thấp kém dành cho những người không có tay nghề cao.

Khác với chăn trâu chăn bò ở nước ta, chăn chiên là công việc dành cho người lớn, chứ không phải trẻ con.  Chăn trâu chăn bò thật ra chỉ là giữ trâu bò cho khỏi phá lúa của người khác.  Trâu bò tự tìm cỏ mà ăn, tìm nước mà uống.  Tối đến chỉ cần dẫn chúng về chuồng là xong việc.  Ngược lại, người chăn chiên là người sống đời du mục, lang thang từ vùng đất này sang vùng đất nọ.  Ngày cũng như đêm, người chăn chiên luôn gắn bó với đàn chiên của mình.  Ngày đến, anh ta phải lo tìm cỏ tìm nước cho đàn súc vật của mình.  Đêm về, người chăn lùa chiên vào một cái hang ở vách đá nào đó — hoặc nếu đang ở giữa đồng hoang thì lấy đá quây thành một vòng rào, lùa chiên vào bên trong — rồi nằm chận ngang cửa mà ngủ.  Nghề chăn chiên trong xã hội Do Thái cũng tương đương với nghề chăn vịt ở miền quê Việt Nam.

Chăn dắt là nghề bạc bẽo, một thứ nghề làm thuê chẳng mấy ai quan tâm.  Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại tự ví mình là “mục tử nhân lành,” mà không phải là “thầy giáo nhân lành” hay “thợ mộc nhân lành,” hay “ngư phủ nhân lành”?  Chúa Giêsu chưa một ngày làm nghề chăn chiên, sao ngài lại ví mình như thế?  Hơn thế nữa, Ngài còn ví mình là một mục tử sẵn sàng bỏ mạng vì đàn chiên.  Ở thời đại của Ngài, chẳng có ai làm như thế!  Phải chăng Chúa Giêsu đang nói chuyện ngược đời?

Điều này chỉ có thể hiểu được nếu đàn chiên là gia sản của người mục tử, đàn chiên là những gì người đó trân quý và gắn bó.  Sự khác biệt của người mục tử mà Chúa Giêsu nói đến, và kẻ làm thuê chính là điều này: đàn chiên thuộc về anh ta (x. Ga 10:12).  Vì chính là gia sản của mình nên người mục tử ra sức bảo vệ và gìn giữ, không để thất lạc dù chỉ một con.

Chúng ta thường cầu nguyện: “Chúa là gia nghiệp đời con.”  Nhưng trong bài tin mừng hôm nay, chúng ta được nghe Chúa Giêsu xác quyết: “Các con là gia nghiệp của ta!  Ta sẵn sàng hy sinh mạng sống vì các con.”  Đây là tin mừng cao cả!  Có thể đối với thế gian, chúng ta chỉ là những con cừu đần độn, nhưng trong ánh mắt của Chúa Giêsu, chúng ta có giá trị vô cùng.

Mối liên hệ giữa đàn chiên và mục tử thân mật thắm thiết đến nỗi Chúa Giêsu đã ví mối liên hệ này như tương quan của Ngài và Chúa Cha: “Ta biết chiên của ta và các chiên ta biết ta, như Chúa Cha biết ta và ta biết Chúa Cha” (Ga 10:14b-15a).  Chúa Giêsu cho thấy Ngài biết rõ và quan tâm đến từng người một, từng con chiên một, kể cả những con chiên không thuộc về đàn này (Ga 10:16).

Là người Kitô, chúng ta thuộc về một đàn chiên duy nhất, do một mục tử duy nhất là Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh chăn dắt.  Vậy ta còn sợ gì? Ta còn e ngại gì mà không dám phó thác đời mình vào trong tay vị thủ lãnh, vị Chủ Chăn vĩnh cửu đó?  Giữa muôn vàn tiếng gọi của dòng đời, ta có nghe chăng tiếng gọi của vị mục tử nhân lành đang thầm thì mời gọi ta theo Ngài?  Chúng ta được biết mình thuộc về ai. Theo thánh Gioan, “chúng ta thực sự là con Thiên Chúa.” (1Ga 3:1b)

************************************

Bạn thân mến,

Chúng ta đang sống trong thời đại mà đôi khi các giá trị bị đảo lộn, ngay cả trong đời sống tôn giáo.  Vậy đâu là những giá trị chân thực của người mục tử?  Đâu là những tiếng nói chân chính mà mình nên nghe theo?  Trong nguyện cầu, chúng ta tập lắng nghe tiếng Chúa thì thầm: hãy tôn trọng sự sống, tôn trọng sự thật, bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi sinh, thăng tiến công bằng xã hội.  Đó là sứ điệp mà Chúa Kitô Phục Sinh vẫn tiếp tục nói qua Hội Thánh.  Nếu chúng ta cố gắng sống theo những giá trị đó là chúng ta đang đi theo vị Mục Tử Nhân Lành.  Còn nếu không, thì hãy xem lại, kẻo đi lầm theo kẻ chăn thuê.

Sống cho những giá trị này không dễ dàng, đôi lúc chúng ta phải trả một giá đắt cho niềm xác tín của mình.  Như thánh Gioan nói: “Thế gian không nhận biết chúng ta, vì thế gian không nhận biết Thiên Chúa” (1Ga 3:1b).  Sống các giá trị của tin mừng là đi con đường hẹp – con đường chẳng mấy ai đi.  Đường hẹp nhưng dẫn đến sự sống đời đời, hay đường thênh thang mà bị hư mất, chúng ta chọn đường nào?

Nhưng chúng ta không chỉ sống và chọn những giá trị đó cho riêng cá nhân mình.  Tôn trọng sự sống, tôn trọng sự thật, bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi sinh, thăng tiến công bằng xã hội, là gia sản chung của nhân loại.  Người kitô cần tích cực quảng bá những giá trị đó cho thế giới chúng ta đang sống.  Nói một cách khác, chúng ta cũng cần trở thành những người phụ tá cho Chúa Kitô vị Mục Tử Tối Cao, để đưa những con chiên khác về đàn chiên của Ngài.  Năm xưa Chúa Kitô Phục Sinh bảo các tông đồ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20:21).  Hôm nay, Ngài vẫn tiếp tục sai chúng ta vào giữa lòng thế giới để gióng lên tiếng nói của lương tâm và sự thật.

Trong giáo hội hoàn vũ cũng như ở giáo hội địa phương, không thiếu những gương sáng của các vị chủ chăn nghiêm túc, nhưng cũng không thiếu những gương mù gương xấu của những kẻ chăn thuê.  Có nhiều chủ chăn hành xử như kẻ làm thuê, chỉ lo tích cóp cho mình mà chẳng đoái hoài gì đến quyền lợi của đàn chiên.  Ngược lại, cũng có rất nhiều vị chủ chăn can đảm, ý thức trách nhiệm của mình được trao phó, sẵn sàng đồng lao cộng khổ với đàn chiên của mình.  Những vị chủ chăn đó biết rằng: “quan nhất thời, dân vạn đại.” Họ không tìm lợi lộc trước mắt, nhưng quan tâm đến an sinh phúc lợi lâu dài cho mọi người.  Những chủ chăn này can đảm chống lại sói dữ, sẵn sàng thí mạng để đổi lại đàn chiên của mình được hưởng tự do công lý, an cư lạc nghiệp.  Họ đang sống tin mừng cách triệt để, sống trọn vẹn cái nghịch lý “chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.”

Hôm nay, Chúa Kitô mời gọi chúng ta trở thành mục tử cùng cộng tác với Ngài.  Lời mời đó không chỉ dành cho hàng giáo sĩ hoặc các bề trên dòng tu như vẫn thường hiểu, nhưng dành cho tất cả những ai có trách nhiệm chăm sóc, dạy dỗ người khác.  Đó là các bậc ông bà, cha mẹ, thầy cô, giáo lý viên, huynh trưởng, v.v.  Những người này mang trọng trách chủ chăn, chịu trách nhiệm với Chúa Kitô vị Mục Tử tối cao.  Họ có bổn phận phải hướng dẫn và dạy dỗ con cháu, học trò, đàn em, tiếp thu nếp sống và giá trị của tin mừng.

Để làm được điều đó, chúng ta cần cầu nguyện và hỗ trợ cho nhau, để các bậc làm cha mẹ, các nhà giáo dục đạo cũng như đời, trở thành những mục tử chân chính, biết nhận trách nhiệm chăn dắt một cách nghiêm túc.  Ước gì họ không chạy trốn những thách đố đang đe doạ đời sống gia đình và xã hội. Thí dụ như, luyến ái bừa bãi, phá thai, ngoại tình, gian dối, lừa đảo, tham ô, bạo hành, v.v.  Ước gì họ không nản lòng, không buông xuôi bỏ cuộc vì cảm thấy mình bất lực, nhưng can đảm đương đầu với chúng trong niềm tín thác vào quyền năng Thiên Chúa, Đấng giải thoát mọi sự.

Nguyện xin vị Mục Tử Nhân Lành chúc lành cho tất cả chúng ta, hầu chúng ta có thể trở thành những mục tử tốt lành theo gương Ngài.  Amen

Anton Phaolo, S.J

ƯỚC NGUYỆN ĐẦU XUÂN (có Youtube)

Mùa xuân Đinh Dậu đang về.  Vào thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, mỗi chúng ta đều có những ước nguyện cho bản thân và gia đình.  Dù thuộc tín ngưỡng nào, người ta cũng tin rằng, những nguyện ước từ trái tim chân thành, được thể hiện trong những giây phút khởi đầu của xuân mới sẽ thành hiện thực.  Người tín hữu công giáo tin vào tình thương của Chúa Quan phòng, và vào lời hứa của Chúa Giêsu: “Ai tin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy và ai gõ cửa thì sẽ mở cho” (Mt 7,7), nên thường cầu nguyện lúc giao thừa và đi lễ đầu năm để xin ơn lành trong năm mới.  Trong niềm phó thác vào tình thương của Chúa, với xác tín rằng Chúa là nguồn mạch mọi ân phúc, chúng ta cùng dâng lên Ngài những ước nguyện đầu xuân.

Ơn đầu tiên mà chúng ta cần cầu nguyện, đó là xin Chúa ban ơn bình an cho thế giới.  Bức tranh toàn cảnh thế giới đầu năm 2017 xem ra ảm đạm và tăm tối.  Nhân loại lo sợ trước nạn khủng bố đang rình rập từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, từ châu Âu, châu Mỹ rồi tới châu Á.  Những cuộc bạo loạn xảy ra khắp nơi.  Chiến tranh giết chóc triền miên tại một số nước Trung Đông.  Nơi một số quốc gia Hồi giáo và Ả-rập, những Kitô hữu là nạn nhân của các cuộc xung đột.  Để duy trì đức tin và bảo toàn mạng sống, họ phải bỏ quê hương, lên đường lánh nạn, chấp nhận bao đau thương trong hành trình tha hương vô định.  Cùng với những “nhân tai”, là hiện tượng biển đổi khí hậu, gây nên những hậu quả nghiêm trọng.  Nơi này hạn hán, nơi kia lũ lụt, nơi khác tuyết lở, làm cho cuộc sống bị đảo lộn, nhiều người phải sống cảnh màn trời chiếu đất, lâm cảnh đói khát vì mất mùa.  Thiên nhiên nổi giận trước sự tàn phá vô trách nhiệm của con người, làm cho môi trường bị ô nhiễm, rừng bị tàn phá, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt.  Những bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, virút Zika, như những làn sóng lây lan nhanh, rất khó kiềm chế.  Trước tình hình thế giới bất an bất ổn này, chúng ta nguyện cầu cho những nhà lãnh đạo các quốc gia, để họ biết dựa trên những nguyên tắc căn bản, tôn trọng quyền con người và lấy hạnh phúc của người dân làm tiêu chí quan trọng cho mọi hành động cũng như mọi quyết định của đường lối chính trị.

Với lòng yêu mến quê hương, chúng ta dâng lời cầu xin Chúa cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam được bình an.  Thế kỷ trước, đất nước thân yêu mang hình chữ “S” này đã trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt.  Người dân Việt Nam khao khát hòa bình, vì họ đã trải nghiệm những hậu quả của chiến tranh.  Không ai muốn nghe tiếng súng đạn, chém giết.  Chẳng ai muốn xung đột, chia lìa.  Ngày hôm nay, tiếng bom đạn đã chấm dứt trên quê hương, nhưng dân tộc này còn nhiều đau khổ, do nghèo nàn, khó khăn về kinh tế.  Nạn tham nhũng như câu chuyện dài chưa có hồi kết, trái lại, ngày một nghiêm trọng và quy mô hơn.  Bạo lực tràn lan, gây chết chóc đau khổ cho bao gia đình.  Sự cách biệt giữa người sống ở thành thị và nông thôn còn chênh lệch xa vời.  Thanh niên nam nữ vì mưu sinh phải rời quê hương, đánh đổi sức lực thanh xuân với đồng lương rẻ mạt nơi xứ người, giống như những nô lệ thời hiện đại.  Trong số những “công nhân xuất khẩu,” nhiều người bị bạc đãi, cư xử tệ bạc và thậm chí bị đánh đập đến tàn phế.  Những cô dâu Việt, muốn đổi đời, chấp nhận nhắm mắt đưa chân tới một tương lai vô định.  Trong số họ, một số ít tìm được hạnh phúc, phần đông còn lại phải chấp nhận thân phận hẩm hiu, tương lai tăm tối, nhiều người đã tự kết liễu đời mình.  Ở trong nước, vì lòng tham, người ta làm bất cứ điều gì đem lại lợi nhuận.  Lương tâm con người bị coi rẻ, đạo đức con người bị lãng quên.  Hậu quả là hàng giả, thực phẩm nhiễm độc tràn lan trên thị trường.  Người ta đang giết dần giết mòn một dân tộc.  Đã có những “làng ung thư” do nguồn nước bị nhiễm độc.  Chúng ta cầu xin cho đất nước được thanh bình, cho mọi người biết tôn trọng tiếng nói của lương tâm, vì lương tâm là luật của Chúa in vào tâm hồn con người.  Khi sống theo lương tâm, người ta không dám làm điều xấu, cuộc sống sẽ an bình tốt đẹp.

Xuân sang là lúc sum họp gia đình.  Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình được bền vững và thực sự là tổ ấm yêu thương.  Vì gia đình là nền tảng của xã hội và của Giáo Hội, nên nếu gia đình vững vàng, thì xã hội vững vàng, Giáo Hội phát triển.  Người Việt Nam vẫn tự hào vì có truyền thống gia đình vững chắc, trên thuận dưới hòa, kính trên nhường dưới.  Tuy vậy, trước cơn lốc ồn ào của nền kinh tế thị trường và hiện tượng toàn cầu hóa, truyền thống ấy đang bị lung lay.  Tỷ lệ ly dị ngày càng tăng, ngay cả giữa những người công giáo.  Những vấn đề liên quan đến gia đình như bạo lực, phá thai, sống chung không tổ chức đám cưới và không có bí tích hôn nhân đang là những ưu tư trăn trở của những người có trách nhiệm trong Giáo Hội cũng như các bậc phụ huynh.  Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chọn định hướng mục vụ năm 2017 này là chuẩn bị các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân.  Đây là trách nhiệm chung của mọi người.  Chúng ta cầu xin cho các bạn trẻ ý thức tầm quan trọng của hôn nhân, chăm lo học giáo lý, xây dựng gia đình trên nền tảng đức tin và nhờ đó, hôn nhân của họ hạnh phúc và bền vững.

Trước thềm năm mới, chúng ta cầu nguyện cho mọi tín hữu vững vàng trong đức tin.  Giữa cơn lốc hưởng thụ của xã hội hiện đại, nhiều người chọn lựa xây dựng lý tưởng đời mình trên những tiêu chuẩn vật chất chóng qua.  Họ như những người xây nhà trên cát, hào nhoáng bề ngoài nhưng thiếu nền tảng bền vững lâu dài.  Họ dễ dàng đánh đổi đức tin để chọn một nghề nghiệp, một mối tình, hay một lối sống không phù hợp với giáo huấn công giáo.  Nhiều người tin Chúa, nhưng vẫn có những thực hành trái nghịch đức tin.  Họ viện cớ “có thờ có thiêng, có kiêng có lành,” tạo thành một mớ tín ngưỡng tổng hợp.  Đầu xuân mới cũng là cơ hội cho nhiều hình thức mê tín dị đoan trỗi dậy như nấm sau mưa.  Tin là chọn lựa Chúa và giáo huấn của Ngài, giữa bao những chào mời khác trong cuộc sống.  Tin cũng là gặp gỡ thân tình và cá vị với một Đấng vô hình đang hiện diện giữa chúng ta.  Tin là chấp nhận theo Chúa, mặc dù không nhìn thấy Ngài. “Phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20,19), Chúa Giêsu phục sinh đã quả quyết như vậy.  Chúng ta cầu xin cho những tín hữu vững đức tin vào Thiên Chúa, mặc dù hành trình đức tin còn nhiều phiêu lưu, thử thách.

Còn biết bao ước nguyện của cá nhân mỗi người, cầu xin cho những nhu cầu thiết thực hoặc những hoàn cảnh éo le của cuộc sống, chúng ta cùng dâng lên Chúa, với niềm xác tín Chúa sẽ nhận lời chúng ta.  Chúa Giêsu đã nói: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá?  Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?  Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao? (Mt 7,9-11).  Lời của Chúa giúp ta tự tin dâng lên những ước nguyện, mặc dù thân phận chúng ta bất xứng, bé nhỏ nghèo hèn.  Xin Chúa nhận lời chúng con!  Amen.

GM Giuse Vũ Văn Thiên
Xuân Đinh Dậu 2017
Nguồn: WHĐ

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

THÔNG ĐIỆP CỦA MÙA XUÂN (có Youtube)

Mùa xuân Đinh Dậu đang về.  Vẫn biết rằng, đông qua thì xuân tới, mà lòng người vẫn thấy xốn xang, khi những tín hiệu đầu tiên của mùa xuân xuất hiện.  Thì ra, mùa xuân không chỉ là một khoảnh khắc thời gian tiếp nối xoay vần, mà còn là thời điểm mang nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống con người.  Tiết trời, thiên nhiên, lòng người đều như muốn gửi đến với chúng ta những thông điệp có ý nghĩa đối với cuộc sống hằng ngày.

Mùa xuân đến mời gọi chúng ta canh tân đổi mới.  Trong suốt mùa đông, thời tiết u ám, giá lạnh.  Khi mùa xuân đến, vũ trụ thiên nhiên như bừng tỉnh và khoác trên mình một chiếc áo mới, huy hoàng lộng lẫy.  Mặt trời sau những ngày vắng bóng, nay trở lại sưởi ấm lòng người, chiếu soi vũ trụ.  Nếu tiết đông là biểu tượng của sự chết, thì mùa xuân là hình ảnh của sự sống.  Cùng với muôn loại cỏ cây, chúng ta được mời gọi canh tân cuộc đời, sang một ngã rẽ mới.  Đoạn tuyệt với mùa đông, cũng là đoạn tuyệt với lối sống cũ, còn vương nhiều khiếm khuyết, để vươn tới một tương lai tươi sáng huy hoàng hơn.  Bước sang xuân mới, người ta khép lại quá khứ, để sống cho hiện tại và hướng về tương lai với những dự phóng mới.  Lời mời gọi canh tân là một trong những sứ điệp quan trọng của Tin Mừng.  Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ bằng lời gọi sám hối vì “Nước Trời đã đến gần” (x. Mc 1,15).  Sám hối canh tân luôn gắn liền với đời sống Kitô hữu, bởi con người sống giữa trần gian luôn bị giằng co giữa nhiều khuynh hướng.  Có những khuynh hướng tốt đưa họ hướng thượng để gặp gỡ Đấng Tối cao, nhưng cũng có những lôi kéo làm cho con người chìm trong biển đam mê sa đọa.  Giữa hai ngả đường, người khôn ngoan chọn cho mình hướng đi đem lại bình an và thăng tiến; người thiển cận lại chỉ chú ý đến những niềm vui hào nhoáng nhất thời.  Mùa xuân gửi đến cho chúng ta thông điệp: hãy đổi mới cuộc đời và hãy khôn ngoan chọn lựa cho mình một hướng đi.  Người tin Chúa nhận ra nơi Đức Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.  Người là Đường, là Sự thật và là Sự sống.  Ai tin nơi Người sẽ tìm thấy hạnh phúc và niềm vui.  Nếu người tín hữu thành tâm sám hối, là vì họ tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa.  Ngài sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm, dù nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, bởi Ngài là Cha nhân hậu.  Thiên Chúa vui mừng khi một tội nhân từ bỏ tội lỗi.  Cả triều thần thiên quốc cũng chung vui niềm vui ấy (x. Lc 15,7).  Nếu chúng ta luôn sống trong tinh thần canh tân đổi mới, cuộc đời của chúng ta sẽ trở nên thánh thiện vẹn toàn, vì cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời, nhờ đó, tâm hồn chúng ta sẽ thư thái và bình an.

Những mầm non mới nhú của mùa xuân mang đến cho chúng ta thông điệp hy vọng.  Ở các xứ lạnh, cây cối khẳng khiu dường như đã chết hẳn trong tiết lạnh của mùa đông, nhưng khi mùa xuân về, từ những thân cây tiêu điều ấy, lại trỗi dậy những tín hiệu của sự sống.  Cuộc sống không phải lúc nào cũng êm trôi, nhưng luôn có những khó khăn thử thách.  Có những người can đảm trỗi dậy sau những vấp ngã; nhưng cũng có những người bi quan chán nản buông trôi theo dòng sông định mệnh.  “Lửa thử vàng, gian nan thử đức,” mùa xuân gọi mời chúng ta hãy có cái nhìn lạc quan về cuộc sống, để vươn tới tương lai.  Quả vậy, phần lớn những vĩ nhân và những người thành đạt trong cuộc sống, là những người đã thất bại nhưng không chùn bước, đã vấp ngã nhưng không bi quan.  Cùng với nỗ lực phấn đấu của bản thân, người tín hữu còn tin vào ơn phù trợ của Thiên Chúa.  Ngài luôn che chở giữ gìn và chúc lành cho những ai trông cậy Ngài.  Chúa Giêsu đã trấn an các môn đệ đang kinh hoàng lo lắng: “Thày đây, đừng sợ!” (Mc 6,50).  Chúa cũng hứa: Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy và ai gõ cửa thì sẽ mở cho.  Tác giả Helen Keller đã viết: “Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối.”  “Quay về hướng mặt trời” chính là nhìn cuộc đời một cách lạc quan.  Hơn nữa, mặt trời là chính Đức Kitô, Đấng đang soi chiếu và hướng dẫn chúng ta.  Ai tin tưởng phó thác nơi Người sẽ không phải thất vọng.

Mùa xuân còn mang đến cho chúng ta thông điệp yêu thương.  Có dịp chứng kiến bầu khí xuân ở Việt Nam, những người bạn nước ngoài rất ngạc nhiên và thán phục trước nét đẹp văn hóa của ngày tết cổ truyền.  Ngày tết có ý nghĩa thiêng liêng tuyệt vời đối với người dân Việt.  Những người đi làm ăn xa, dù nghèo nàn cũng cố gắng trở về sum họp hội tụ với gia đình.  Sau những tháng ngày làm việc vất vả, về với người thân trong những ngày tết đến xuân về, họ quên hết mọi nhọc nhằn.  Tình yêu thương hài hòa cũng được thể hiện qua thói quen kiêng cữ không làm người khác buồn trong ba ngày tết.  Dịp tết đến xuân về cũng là cơ hội để hàn gắn những rạn nứt mâu thuẫn giữa các thành viên trong một dòng họ, một gia đình, hay lối xóm, để rồi, khi tiễn năm cũ, mọi người cũng “tiễn” luôn những xui xẻo, mâu thuẫn hận thù, để cùng sang một trang mới với mùa xuân.  Gặp nhau trong những ngày xuân mới, mọi người đều trở nên thân thiện, cầu chúc cho những điều tốt lành và mong cho mọi người hạnh phúc.   Tình yêu thương không chỉ dừng lại nơi những người còn sống, nhưng ngày cuối năm và đầu xuân mới cũng là những ngày thể hiện lòng hiếu thảo tri ân đối với những bậc sinh thành và những người đã khuất.  Vì vậy, trước tết, các phần mộ của tổ tiên đều được quét dọn sạch sẽ, được trưng bày hoa nến.  Với tấm lòng thành kính tri ân, người ta tin rằng ông bà cha mẹ và những người thân đã khuất luôn hiện diện với con cháu, và cùng về “ăn tết” với họ.

Nếu tinh thần của những ngày đầu xuân được trân trọng và phát huy trong suốt cả năm, thì cuộc sống của chúng ta sẽ rất tốt đẹp.  Những thông điệp của mùa xuân được gửi đến chúng ta như lời mời gọi hãy làm cho tinh thần của mùa xuân lan tỏa hằng ngày và khắp nơi trong cuộc sống.  Cho dù ngày mai còn nhiều khó khăn thử thách, bạn và tôi, hãy đón mùa xuân mới trong tâm tình phó thác cậy trông vào Đấng Tối Cao, vì biết rằng, không có gì mà Ngài không làm được (Lc 1,37).

Với tâm tình trân trọng quý mến, xin kính chúc quý Độc Giả một mùa xuân an lành, tràn đầy tình Chúa, thấm đượm tình người, ngàn muôn phúc lộc và may mắn bình an.

GM Giuse Vũ Văn Thiên
Xuân Đinh Dậu 2017

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

DỤ NGÔN HẠT MUỐI (có Youtube)

Hạt muối Bé nói với hạt muối To: “Em đến chia tay chị, em sắp được hòa trong đại dương.” Muối To trố mắt: “Em dại quá, sao lại để đánh mất mình như thế.  Em muốn thì em cứ làm, chị không điên!”

Muối To thu mình co quắp lại, nhất định không để biển hòa tan.  Muối To lên bờ, sống trong vuông muối.  Nó vẫn ngạo nghễ, to cứng và nhìn chúng bạn bé tí ti đầy khinh khỉnh.  Thu hoạch, nông dân gạt nó ra ngoài, xếp vào loại phế phẩm, còn những hạt muối tinh trắng kia được đội lên đầu, hay bê bên lưng rồi đóng vào bao sạch đẹp…  Lần đầu tiên nó thấy mình bị xúc phạm!

Sau một thời gian lăn lóc hết xó chợ này đến xó chợ khác, cuối cùng người ta cho nó vào nồi cám heo.  Phải hóa thân phục vụ cho lũ heo dơ bẩn này ư? Nó tủi nhục ê chề!  Lòng kiêu hãnh không cho phép nó “tế thân” cho lũ heo hạ tiện.  Nó thu mình co cứng hơn mặc cho nước sôi trăm độ cũng không lấy được, dù là cái vảy da của nó.

Khi rửa máng heo, người ta phát hiện nó, và chẳng cần nghĩ suy, ném nó ra đường lộ.  Người người qua lại đạp lên nó!

Hạt muối là để hòa tan.  Hạt Muối phải chịu tan biến chính mình mới thể hiện giá trị đích thực của hạt muối.  Muối đã lạt và không còn khả năng hòa tan thì cũng bị quên lãng hay vứt bỏ ta đường cho người qua lại dẫm đạp mà thôi!

Con người không được sống cho chính mình.  Con người phải biết dấn thân, hòa nhập với xã hội mới thể hiện vai trò giá trị của mình trong cộng đồng.  Nhân loại cũng bỏ rơi những con người lười biếng, vô dụng, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội.  Muối đã lạt thì vứt đi.  Con người lạt tình người, lạt trách nhiệm sẽ trở nên vô dụng và bị bị lãng quên.

Chúa Giêsu mời gọi người tín hữu phải biết hòa tan trong cuộc đời.  Như hạt muối hòa tan trong môi trường để ướp mặn cuộc đời.  Như ánh sáng hòa tan trong không gian để xua tan bóng tối.  Muối và ánh sáng đều phải chịu tan biến mới sinh ích cho con người.  Là người Kitô hữu cũng phải hòa tan cuộc đời mình trong dòng chảy tình yêu để mang lại sức sống cho con người.

Chính Chúa Giêsu đã chấp nhận hòa tan chính mình trong dòng chảy của cuộc đời.  Ngài đã trở nên mọi sự cho mọi người.  Ngài đã sống để dâng hiến và phục vụ con người trong yêu thương hết mình như thánh Gioan đã nói: “Ngài đã yêu thì yêu cho đến cùng.”  Đỉnh cao của hòa tan là chấp nhận tiêu hao chính mình “như hạt lúa chịu mục nát để sinh nhiều bông trái.”

Năm nay Giáo hội mời gọi chúng ta “Phúc âm hóa” là dịp nhắc lại vai trò của người tín hữu giữa dòng đời.  Là người tín hữu phải đem muối Phúc âm thẩm thấu vào trong thế gian.  Là người tín hữu phải đem ánh sáng của Phúc âm dẫn dắt con người hôm nay đi trong chân lý.  Thế nhưng, ở đâu dó vẫn có những tín hữu thiếu gia vị của tình yêu, thiếu cả gương sáng gây ô uế môi trường và gây gương xấu cho tha nhân.  Ở đâu đó vẫn có những nhóm giáo dân thường co cụm chính mình mà ít cởi mở, thân thiện với tha nhân.  Đó là lý do mà Giáo hội không thực sự có gía trị trong cộng đồng nhân loại.  Làm sao Giáo hội có thể phúc âm hóa môi trường khi mà người tín hữu để muối đã lạt qua cách sống đạo hời hợt, đôi khi còn thiếu gia vị của tình yêu?  Làm sao mà Giáo hội có thể Phúc âm hóa khi mà chính người Kitô hữu vẫn còn làm gương xấu của gian dâm, của cờ bạc, rượu chè…

Ước gì đời sống của chúng ta luôn là lời ngợi ca và tôn vinh Chúa.  Một đời sống thấm nhuần lời Chúa để đem tin mừng thẩm thấu vào trong thế gian.  Một đời sống công bình bác ái như những ngọn đèn hải đăng thắp sáng trong bóng đêm của xã hội đầy bất công và hận thù.  Một cuộc sống đi vào lòng nhân thế để phủ đầy ánh sáng của Phúc âm và hơi ấm của Tin mừng.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn hoàn thành đời mình như muối mặn, như ánh sáng hòa tan cho thế gian sức nóng và tràn ngập ánh sáng của Tin mừng.  Amen.

LM Giuse Tạ Duy Tuyền

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.