LINH MỤC, NGƯỜI LÀ AI? (có Youtube)

Trong mắt mọi người, đặc biệt là những phụ nữ đạo đức, linh mục luôn ở một vị thế cao.  Linh mục được mọi người kính trọng, vì họ là người của Chúa mà.  Khi đi lễ, người dân thì phải chen chúc giành chỗ ngồi, còn linh mục đã được chuẩn bị cho sẵn những chiếc ghế êm, có quạt mát.  Của ăn ngon cũng dành cho linh mục.  Người ta không dám xúc phạm đến linh mục vì họ sợ bị Thiên Chúa phạt.  Được một vị linh mục chúc lành, được bắt tay với một vị linh mục, thậm chí được chụp hình chung với một vị linh mục thôi, cũng đủ làm người ta hạnh phúc suốt mấy ngày.  Bề ngoài thì cũng giống như bao nhiêu người khác thôi, nhưng họ có quyền tha tội cho người khác, lời nói của họ có trọng lượng hơn, chỉ cần giang tay, đọc vài lời nguyện, chia sẻ một chút, họ đã có thể kiếm “chút ít” để trang trải cuộc sống rồi.  Linh mục chỉ là như thế thôi sao?

Họ có được những đặc ân như thế, có lẽ bởi vì họ là số ít được tuyển chọn giữa nhiều người.  Đâu phải dễ mà trở thành linh mục.  Phải hy sinh nhiều lắm, phải trải qua bao thăng trầm thử thách, phải ngậm đắng nuốt cay, đánh đổi bao điều, họ mới được trao chức thánh, “hân hoan bước lên bàn thờ” dâng của lễ.  Đã có rất nhiều người cùng đi chung với họ, nhưng đã “bỏ dở cuộc chơi”, đã rẽ sang hướng khác vì thấy con đường này không hợp với mình.  Trong số đó có những người tài giỏi hơn họ, thánh thiện hơn họ, có nhiều hậu thuẫn hơn họ.  Con đường đi tu đâu phải là con đường ai muốn cũng đi được, đâu phải chỉ dùng ý chí mà bước tới.  Nó là cả một ơn gọi, một mầu nhiệm, một “sự điên rồ” không tên. Phải chăng  vì do khó khăn mà đạt được, nên người linh mục cũng mặc nhiên được xếp hơn người khác?

Không, chắc chắn là không phải!

Linh mục là trung gian giữa Thiên Chúa và con người.  Linh mục hệt như Mô-sê, người đã lãnh đạo dân ra khỏi nô lệ Ai Cập, đã trở thành cầu nối giữa dân và Thiên Chúa, đã làm chứng cho giao ước giữa hai bên.  Linh mục chính là những vị tư tế, thay mặt dân dâng lên Thiên Chúa những của lễ và cầu xin ơn lành của Chúa ban xuống cho dân.  Có thể nói, linh mục là trung gian nối kết cái hữu hình với vô hình để qua đó, con người có thể vươn lên tới trời, và Thiên Chúa có thể ngỏ lời với dân.  Người ta tin tưởng linh mục vì người ta cho rằng linh mục là người có thể trò chuyện với Chúa cách thân mật, có một mối tương quan gắn bó và gần gũi với Chúa, và lời cầu nguyện của vị linh mục dễ được Chúa chấp nhận hơn.  Người ta ngưỡng mộ vị linh mục vì thán phục tinh thần từ bỏ của họ, rằng họ đã thanh thoát khỏi bụi trần, không còn vương vấn với hồng nhan, không còn chút dính bén gì với cuộc đua tranh căng thẳng nơi trần thế.  Linh mục là người được ân sủng Chúa bao bọc trọn vẹn.

Từ tính chất thánh thiêng ấy, người ta không làm linh mục như một nghề kiếm sống.  Linh mục tự bản chất không phải là chiếc áo khoác bên ngoài để tô vẻ sự hào nhoáng cho người ta.  Ai sử dụng chức linh mục như phương tiện để thu vén cho bản thân, người ấy thực sự đã đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa, phụ lòng mong mỏi của giáo dân, và cũng phản bội lại chính mình.  Người ta không làm linh mục nhưng  linh mục.  Có một sự khác biệt giữa làm và .  Chức linh mục đụng chạm đến cái cốt lõi của một con người, đụng tới “cái là”, chứ không hệ luỵ ở những gì người đó làm.  Một người khi đã lãnh nhận chức thánh thì dù có xây một trăm nhà thờ to lớn, hay chỉ lủi thủi nơi một nhà nguyện cũ kỹ; dù có nhiều fan hâm mộ hay chẳng ai biết đến; dù mặc trên người những bộ quần áo sang trọng với vòng vàng lấp lánh, đầu tóc chỉnh chu hay mặc những bộ đồ cũ kỹ, tóc tai bù xù… người đó vẫn là linh mục, một linh mục trọn vẹn của Chúa giữa trần gian.

Là linh mục, chính là trở nên như Giêsu, vị linh mục đầu tiên và hoàn hảo nhất.  Đó là con người gắn với Cha không ngơi, và nhờ đó mà luôn có lòng thương cảm dành cho con người, luôn thao thức trước đồng lúa mênh mông không người gặt, và đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt.  Họ thổi vào nhân gian luồng gió mới, họ đánh thức con người khỏi giấc mộng mê muội của những cái mau qua.  Họ chiếu sáng thế giới bằng ánh sáng nhân đức và sưởi ấm lòng người bằng ngọn lửa yêu thương.  Có thể nói, linh mục là người mang Thiên Đàng xuống trái đất này, và đưa con người lên cao đụng chạm với Thiên Chúa.  Như Giêsu, họ ý thức rằng họ đến “để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”; họ gắn kết cuộc đời mình với mọi con người dù người đó có giàu sang hay nghèo khổ, thánh thiện hay tội lỗi, cao sang hay hèn kém.  Họ đảm bảo cho người ta hạnh phúc Nước Trời “anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi”; họ trao ban bình an, sự tha thứ và đưa người ta đến cuộc sống mới tươi đẹp hơn “cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa.”

Như Giêsu, họ không bao giờ đưa mình lên, còn nếu phải đưa lên, thì đó chính là giương cao trên cây thập giá.  Giáo Hội trao ban tác vụ linh mục cho một người chính là đưa người ấy lên ngọn đồi Canvê.  Nơi đó, từng ngày từng giờ, từng phút giây của cuộc sống, vị linh mục giang đôi tay để dâng lễ tế cuộc đời.  Họ dâng chính mình làm lời cầu nguyện cho dân Chúa.  Họ biến mình làm của lễ tạ tội và xin ơn.  Họ dâng, dâng hết… cho đến khi chỉ còn lại một thân xác chơ vơ, ngậm cười trong bình an và hạnh phúc vì đã vâng theo ý Cha, yêu thương nhân loại và yêu cho đến cùng.  Là linh mục chính là huỷ mình ra không, là cùng đóng đinh với Đức Kitô vì phần rỗi của muôn người.

Đẹp lắm nhưng cũng khó lắm.  Tôi cảm thấy rùng mình khi nghĩ đến điều này nhưng vẫn cố gắng thưa lên cùng Chúa: “Lạy Chúa, xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu … chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng Chúa vì được như thế là đủ cho con. Amen!”

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

************

Lời nguyện cho các Linh Mục

Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các Linh mục,
vì các ngài là của riêng Chúa,
đã tận hiến cả cuộc đời
để lo việc mở mang nước Chúa.

Xin Chúa gìn giữ các Linh mục vì các ngài sống giữa đời
nhưng không thuộc về thế gian;
những lúc bị lạc thú trần gian cám dỗ
xin Chúa ấp ủ các Linh mục trong Trái Tim Ngài.

Xin Chúa hãy gìn giữ và an ủi các Linh mục,
trong những lúc các ngài cô đơn sầu khổ;
khi suốt cả cuộc đời hy sinh cho các linh hồn
bị xem ra vô ích.

Xin Chúa gìn giữ các Linh mục,
và xin Chúa thương nhớ, lạy Chúa,
các ngài không có ai chỉ trừ một mình Chúa thôi!
Các ngài chỉ có con tim của con người
với những mỏng dòn yếu đuối của nó.

Xin Chúa giữ gìn các Linh mục trong trắng
như Mình Thánh Chúa mà hằng ngày các ngài nâng niu.
Xin Chúa thương chúc lành cho các Linh mục,
xin thánh hóa mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của các ngài. Amen!

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TRAO BAN TẤT CẢ VÌ YÊU THƯƠNG (có Youtube)

Kinh thánh (St 22, 1-18) cho biết: Sau nhiều tháng năm chờ đợi mỏi mòn, mãi cho đến trăm tuổi, Cụ Áp-ra-ham mới được diễm phúc sinh đứa con nối dõi tông đường.  I-xa-ác chào đời đem lại niềm vui chan hoà cho Cụ Áp-ra-ham.  I-xa-ác là lẽ sống, là cây gậy chống đỡ tuổi già, là tương lai cho giống nòi và là tất cả của Cụ già trăm tuổi.

Thế mà Thiên Chúa truyền cho Cụ phải sát tế đứa con yêu để tế lễ cho Ngài.

Trời đất như quay cuồng sụp đổ khi Cụ Áp-ra-ham nghe lệnh truyền của Thiên Chúa.

Phải ở trong hoàn cảnh của Cụ già trăm tuổi như Áp-ra-ham mới cảm nhận thấm thía nỗi đau thương và mất mát vô cùng lớn lao của một người cha phải sát tế đứa con một rất đỗi yêu quý của mình.  Nếu không vì tình thương lớn lao đối với Thiên Chúa, Cụ Áp-ra-ham không thể nào thực hiện được sự hiến dâng đau lòng đó.

Cụ Áp-ra-ham sẵn sàng hi sinh tất cả vì Thiên Chúa là Đấng mà Cụ thần phục và mến yêu.

Nhưng Thiên Chúa chỉ thử lòng Cụ Áp-ra-ham thôi.  Ngài không nỡ để cho một người cha phải gánh chịu nỗi đau thương lớn lao đến thế.

Trích đoạn Tin Mừng trong ngày lễ hôm nay cũng đề cập đến một người Cha khác đã thực hiện một sự trao ban triệu lần cao cả hơn.

Vì quá yêu thương nhân loại lỗi lầm, vì không muốn cho muôn người phải lâm vào cảnh đau khổ trầm luân vì tội lỗi ngút ngàn của họ, Thiên Chúa Cha đã trao ban Con Một vô cùng yêu quý của Ngài, để Con của Ngài chết thay cho nhân loại, để cho những ai tin vào Con Ngài thì được cứu sống và được sống muôn đời:

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Gioan 3, 16-17).

Xưa kia, Thiên Chúa không nỡ để cho I-xa-ác phải chết dưới lưỡi dao run rẩy của Cụ Áp-ra-ham, không để cho thân xác của I-xa-ác phải chịu thiêu đốt trên bàn thờ để làm hy lễ cho Ngài, nhưng đã đến một thời, Thiên Chúa Cha lại để cho Con Một Ngài, là Ngôi Hai Thiên Chúa, phải chịu đóng đinh, chịu quằn quại đau thương và chịu chết trên thập giá để đền cho hết tội lỗi chúng ta và ban lại cho chúng ta sự sống đời đời.

Tôi tớ thấp hèn liều mình chết thay cho chủ nhân quyền quý, dân đen cùng khốn chết cho hàng vua chúa cao sang hay con chó trung thành liều chết để cứu mạng chủ cũng còn là điều dễ hiểu. Đằng nầy Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể đất trời lại hiến thân chết thay cho loài người hèn mọn thì quả là điều vượt quá trí tưởng tượng con người.

“Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng vì bạn hữu mình” (Gioan 15, 13) và không có tình yêu nào sánh ví được với tình yêu khôn vời của Thiên Chúa dành cho nhân loại.

*********

Khi được người khác biếu tặng một món quà, ai trong chúng ta cũng đều nhớ ơn ân nhân và tìm cách đền đáp lại bằng món quà tương xứng.

Khi được Chúa Trời cao cả ban tặng chính Con Một Ngài để cứu mạng cho chúng ta, khi được Chúa Giêsu hiến thân chịu chết để cứu ta khỏi chết muôn đời, có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc đền đáp công ơn cao dày đó?

Để đền đáp phần nào tình thương trời bể của Thiên Chúa Cha, Đấng đã trao ban Con Một mình cho nhân loại, để đền đáp sinh mạng của Chúa Giêsu đã trao hiến cho bạn và cho tôi, chúng ta hãy dâng cho Ngài một hiến lễ tương tự, dù vạn lần nhỏ bé hơn.  Đó là “hiến dâng thân mình chúng ta làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rôma 12, 1).  Đó cũng là nguyện ước của chân phước An-rê Phú Yên hôm xưa: “đem cuộc sống báo đền cuộc sống; lấy tình yêu đáp trả tình yêu.”

Lm Trần Ngà

*********

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.
Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.  Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.
Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Rabbouni

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

BA NGÔI (có Youtube)

Trong thánh lễ ban phép Bí tích Thêm sức, Đức Tổng Giám mục hỏi một ứng viên định nghĩa Ba Ngôi Thiên Chúa là gì. Một bé gái 14 tuổi nhỏ nhẹ trả lời: “Thưa Ba Ngôi Thiên Chúa là Ba Ngôi trong một Thiên Chúa”. Đức Tổng giám mục đã lớn tuổi, nặng tai, nghe không rõ, bèn hỏi lại: “Cha không hiểu con nói gì?” Vị linh mục giúp lễ cho ngài là một nhà thần học bèn trả lời: “Thưa Đức cha, Đức cha không cần phải hiểu. Ba Ngôi là một mầu nhiệm!”

Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta biết rằng mình không thể hiểu được, vì đó là một mầu nhiệm. Nhưng cũng biết chắc rằng chúng ta đang sống mầu nhiệm đó. Ai cũng sống trong dòng đời, nhưng mấy ai đã hiểu được cuộc đời. Ai cũng cảm được dòng nhạc hay, nhưng lại không thể lấy được cái hay đó ra cho người khác xem!

Tách ra khỏi dòng sông, con cá sẽ chết. Biệt lập ra khỏi dòng đời, con người sẽ không tìm thấy hạnh phúc. Lẩy ra một nốt nhạc, nó chỉ là một âm thanh trơ trọi, không còn là một bài ca. Một vũ khúc được liên kết bởi các cử điệu trong sự liên tục trôi chảy và nhịp nhàng. Đó chính là những hình ảnh sống động giúp ta hiểu phần nào về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Có một cuốn sách tuyệt hay với tựa đề “Flow” – “Sự Trôi Chảy” của Mihaly Csikzentmihalyi, giáo sư tâm lý học trường Đại học Chicago. Tác giả đã trình bày những kết quả của việc nghiên cứu nhằm xác định một cách chính xác câu hỏi: “Điều gì làm cho con người hạnh phúc?” Sau khi thử nghiệm và phỏng vấn hàng trăm người trong nhiều năm, giáo sư đã đi đến kết luận rằng con người cảm thấy hạnh phúc nhất khi chúng ta sống “trong sự trôi chảy”.

Qua lời khẳng định này, tác giả muốn nói đến khả năng tự làm mất đi cái bản ngã của mình để hòa điệu vào cái khác hay người khác, hy sinh cuộc đời mình cho một người, một công trình, hay một hoạt động, nhẩy ra khỏi sự hạn hẹp của cái tôi chủ quan để hòa mình vào dòng suối cảm nghiệm của cuộc đời.

Sống “trong sự trôi chảy” có thể thực hiện dưới vô số những hình thức: leo núi, đánh cờ, nghe nhạc, hàn huyên trong câu chuyện gẫu, đắm chìm vào trong cuốn tiểu thuyết trinh thám, hay hăng say làm việc giúp đỡ người nghèo. Bất cứ cái gì thúc đẩy chúng ta ra khỏi bản thân mình, bất cứ cái gì làm cho chúng ta ngây ngất, hay tạo nên hoan lạc có thể được coi như “trong sự trôi chảy”. Đồng thời, khi chúng ta bị ngã bật ngửa ra, qua sự chán chường hay lo âu, khi chúng ta tê cóng lại thay vì chuyển động trôi chảy, chúng ta trở nên bất mãn, không hạnh phúc.

Đối với người Công giáo thì chẳng có gì ngạc nhiên, vì chúng ta ngầm khẳng định cái kinh nghiệm nội tâm này và biểu tỏ ra một cách sâu xa mỗi khi làm dấu thánh giá. Tôi tự hỏi chúng ta có thường ý thức rằng Thiên Chúa mà chúng ta thờ phượng không phải là một tĩnh vật bất động nhưng là một tập thể của những ngôi vị linh hoạt và năng động: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần.

Từ nguyên thủy, Đức Chúa Cha, nguồn thần tính vô tận và phong phú, biểu tỏ qua Chúa Con, một cuộc hành trình đi ra khỏi chính mình trong kiến thức và tình yêu. Và Đức Chúa Con, từ nguyên thủy tự cho phép mình được phát biểu và rồi trở về với Đức Chúa Cha trong hoan lạc. Trong tình yêu hỗ tương, sự chia sẻ thân mật sâu xa của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con là Đức Chúa Thánh Thần.

Diễn tả theo ngôn ngữ gợi cảm của thánh Bernard of Clairvaux: Đức Chúa Cha là người hôn, Đức Chúa Con là người được hôn, và Đức Chúa Thánh Thần chính là nụ hôn mà Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con chia sẻ với nhau. Thiên Chúa của chúng ta là một sự nhịp nhàng, một vũ khúc, một dòng sông, một dòng đời. Bản chất của Đức Chúa Cha là hướng về người khác, là đi ra khỏi chính Ngài. Bản tính của Đức Chúa Con là quên mình, trong khi bản tính của Đức Chúa Thánh Thần là yêu thương và được thương yêu.

***********

Ôi Thiên Chúa của con, con thờ lạy Ba Ngôi, xin giúp con quên hẳn mình đi để ở trong Chúa, bất động và bình an như thể hồn con đang sống trong vĩnh hằng; xin đừng để điều gì quấy phá sự bình an của con, và làm con phải ra khỏi Chúa, ôi Đấng bất biến của con, nhưng xin cho mỗi phút đem con vào sâu hơn trong mầu nhiệm của Chúa!  Xin cho tâm hồn con được bình an và trở thành thiên đường của Chúa, nơi cư ngụ Chúa yêu thích, nơi Chúa nghỉ ngơi.  Xin cho con đừng bao giờ để Chúa một mình, nhưng luôn có mặt, trọn vẹn, tỉnh thức trong đức tin, hết lòng thờ kính, hiến dâng trọn vẹn để Chúa tác tạo. 

Lời nguyện của chân phúc Êlisabeth Ba Ngôi.

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

33 NĂM SAU (có Youtube)

Với tựa đề “33 năm sau”, đó là một câu chuyện thuật lại như sau: “Những gì đã xảy ra cho đứa bé năm nào?”  Một trong ba vua đã đi triều bái vua Do Thái mới sinh tự hỏi.  Suốt cuộc đời mình, nhà vua không thể nào quên được cuộc hành trình cách đây khoảng 33 năm, một cuộc hành trình dõi theo ánh sáng sao lạ dẫn ông đến hang đá Bêlem.

Câu hỏi: “Liệu đứa bé ấy có trị vì dân Israel được không?”  Làm cho nhà vua bồn chồn đứng ngồi không yên.  Rồi chẳng dừng được, một lần nữa nhà Vua quyết định lên đường đi đến Palestine.  Tại Giêrusalem, những bậc bô lão còn nhớ đến những vì sao lạ, nhưng không ai biết gì đến đứa bé được sinh ra dưới điềm lạ ấy.  Còn tại Bêlem mọi người được hỏi đều lắc đầu, ngoại trừ một cụ già cho nhà Vua biết: Làm gì có ông Giêsu Bêlem, chỉ có ông Giêsu Nagiarét, một người nói phạm thượng tự xưng mình là Con Thiên Chúa, nên cách đây mấy tuần đã bị xử “tử hình thập giá”.

Thất vọng ê trề, nhà Vua thẫn thờ nhập vào đoàn những người hành hương trở lại Giêrusalem, vào đúng ngày Lễ Ngũ Tuần.  Chen lấn vào đoàn lũ đang mừng lễ Tạ Ơn Sau Mùa Gặt, nhà Vua chú ý đến một đám đông đang bu quanh một nhóm người.  Tò mò ông lấn qua đám đông để đến gần và nghe có kẻ nói: “Tưởng gì chứ lại gặp mấy tên say rượu nói tầm xàm.”

Nhưng tai nhà Vua lại nghe một người trong nhóm nói tiếng nước mình và rõ ràng ông ta nói về ông Giêsu Nagiarét, người đã bị đóng đinh, nhưng đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết.  Như bị một sức mạnh vô hình thúc đẩy, nhà Vua chen vào đám đông cất tiếng hỏi: “Vậy bây giờ ông Giêsu đó ở đâu?”  Ðại diện nhóm người đứng ở giữa đám đông là Simon Phêrô trả lời: “Ngài đang ở giữa chúng tôi.  Ngài đang ở trong chúng tôi.  Chúng tôi là môi miệng, là tai mắt, là đôi tay, là đôi chân của Ngài.”

Trong lúc Phêrô đang nói, bỗng có một luồng gió thổi mạnh và hình lưỡi lửa một lần nữa thổi tràn xuống mọi người.  Nhà Vua bỗng lại thấy ánh sao Bêlem, nhưng lần này ánh sao ấy chia ra nhiều ánh sao khác rơi xuống mọi người.  Trong tâm hồn, nhà Vua chợt hiểu: Mỗi người phải trở nên máng cỏ nơi Ðức Giêsu sinh ra và mỗi người phải mang Ngài đến cho mọi người xung quanh.

Câu chuyện trên nối liền ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh, mừng biến cố Ngôi Lời nhập thể với Lễ Tưởng Niệm Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.  Ðồng thời câu chuyện cũng nêu nổi bật bổn phận của mọi người Kitô, là những kẻ phải trở nên tai mắt, trở nên môi miệng và chân tay của Ðức Kitô để mang Tin Mừng của Ngài đến cho mọi người chúng ta gặp gỡ và cộng tác hằng ngày.

Trích Lẽ Sống

******

Lạy Chúa Thánh Thần mến yêu, Chúa là nguồn êm ái và ủi an, là ánh sáng và ân sủng, xin ngự xuống lòng con, con khao khát Chúa.  Xin ban cho con ơn khôn ngoan để con dùng sự phán đoán, lời nói và hành động mà tôn thờ, chúc tụng và làm sáng danh Chúa.  Xin cho con trí thông hiểu để con biết Chúa và yêu Chúa nhiều hơn, để con đón nhận và làm theo thánh ý Chúa.  Xin cho con ơn hiểu biết để con biết được giá trị của ơn cứu độ.

Xin hướng dẫn để con làm chứng nhân cho Chúa, dẫn dắt ai đang tìm kiếm Chân Lý và Ánh Sáng.  Xin làm cho  con trở nên khí cụ, đem Chúa đến cho người lạc lối.  Xin cho lòng con sốt mến, để con yêu thương, phụng sự và tôn thờ Chúa.  Xin cho con ngoan cường chịu đựng, để con vững tin vào Chúa đến cuối cuộc đời, để con thực thi những điều tốt đẹp, vì Chúa và vì mọi người mà không mong đền đáp.

Xin cho con biết kính sợ Chúa, để con nhận ra những tội lỗi của con, để con làm theo thánh ý Chúa và quyết chống lại những cơn cám dỗ.  Xin cho con trưởng thành trong đức tin, trung tín với lời cam kết khi rửa tội.

Lạy Chúa Thánh Thần mến yêu, Chúa là hy vọng, là sức mạnh của con, xin đổ tràn đầy tâm hồn con tình yêu Chúa.  Xin canh tân đức tin và đổi mới lòng con.  Lạy Chúa Thánh Thần, Con yêu mến Chúa, con khao khát Chúa.  Amen.

ĐGM Ruperto C. Santos

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

SỨC MẠNH CỦA SỢ HÃI (có Youtube)

Sợ hãi là nhịp tim của sự bất lực.  Đây là lời của Cor de Jonghe.  Đúng là thế.  Chúng ta có thể giải quyết hầu như mọi chuyện, ngoại trừ nỗi sợ.

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerkehove, trong quyển Vị của Thinh lặng, đã chia sẻ rất chân thành về những con quái vật quấy rối cô lúc cô mắc một chứng bệnh nan y ở tuổi 19.  Cô đưa ra ba con quái vật đã giày vò mình khi cô đối diện với cái chết, buồn sầu, giận dữ, và sợ hãi.  Và cô cho rằng chúng ta có thể dễ dàng đối diện với hai con quái vật buồn sầu và giận dữ, hơn là con thứ ba, con sợ hãi.  Và đây là suy nghĩ của cô:

Buồn sầu có thể giải quyết bằng những giọt nước mắt, bằng u phiền.  Buồn sầu có thể đổ đầy chúng ta như một cốc nước, nhưng cái cốc đó có thể đổ hết đi.  Nước mắt có thể xói mòn sự cay đắng của buồn sầu.  Chắc chắn, chúng ta đã từng cảm nghiệm được sự giải thoát, sự xoa dịu nhờ những giọt nước mắt. Nước mắt có thể làm mềm đi trái tim và tẩy đi chua cay của buồn sầu, cho dù sự nặng nề vẫn còn đó. Buồn sầu dù có nặng nề đến đâu, vẫn có một cái van để xả ra.  Giận dữ cũng thế.  Giận dữ có thể được bộc lộ và những bộc phát này giúp giải phóng giận dữ để nó không cuồng phá chúng ta.  Chắc chắn, chúng ta cũng từng trải qua chuyện này rồi. Tất nhiên, là khi giải phóng cơn giận, chúng ta cần cẩn trọng đừng để làm tổn thương người khác, và đây là mối nguy luôn tồn tại khi xử lý cơn giận dữ.  Với giận dữ, chúng ta có nhiều cách: Có thể hét lên, đánh trống, đấm đạp, cuồng ngôn, vận động cơ thể đến khi mệt lử, đập đồ đạc, thốt ra những lời đe dọa, và xả thịnh nộ vào đủ thứ có thể.  Những chuyện này không hẳn là có lý có lẽ, và nhiều thứ cũng bất bình thường, nhưng chúng cho chúng ta một lối thoát. Chúng ta có các công cụ để giải quyết giận dữ.

Nhưng sợ hãi, thì không có một cái van nào để xả.  Thường thì chúng ta không có cách nào để làm giảm bớt hay bỏ đi nỗi sợ hãi.  Nỗi sợ làm tê liệt chúng ta, và sự tê liệt này cướp đi sức mạnh chúng ta cần có để đương đầu với nó.  Chúng ta có thể đánh trống, cuồng ngôn, khóc lóc, nhưng nỗi sợ vẫn còn. Hơn nữa, không như giận dữ, nỗi sợ không thể trút lên một sự vật hay một con người khác, dù cho chúng ta có cố đến đâu chăng nữa.  Đến tận cùng, chẳng có cách nào.  Cái mà chúng ta sợ, không biến mất theo ý muốn của chúng ta.  Chỉ có thể chịu đựng nỗi sợ hãi.  Chúng ta phải sống với nỗi sợ cho đến khi nó tự tan biến dần.  Có khi, như trong sách Ai Ca, tất cả những gì chúng ta có thể làm, là vùi miệng trong đất cát và chờ đợi.  Với nỗi sợ, có lúc tất cả những gì chúng ta có thể làm là chịu đựng.

Chúng ta có học được bài học nào qua điều này?

Nhà thơ người Nga, Anna Akhmatova, đã kể lại lần bà gặp một bà, khi cả hai chờ bên ngoài nhà tù. Chồng của hai người đều đang bị tù dưới chế độ Stalin, và cả hai đều đến để đưa thư và các gói đồ cho chồng mình, giống như nhiều phụ nữ khác.  Nhưng khung cảnh khá là vô lý.  Tình thế lúc đó thật kỳ quái.  Trước hết, các bà không chắc chồng mình có còn sống hay không, và nếu còn sống, thì cũng chẳng biết là các lá thư và gói đồ của mình có được lính gác gởi đến được tay chồng mình hay không.  Hơn nữa, lính gác, chẳng vì lý do gì cả, lại bắt họ phải đợi hàng giờ dưới tuyết lạnh trước khi đến lấy thư và các gói đồ, và có lúc lại còn chẳng thèm tiếp.  Vậy mà mỗi tuần, bất chấp sự vô lý này, các bà vẫn đến, vẫn chờ dưới tuyết, chấp nhận sự bất công này, chấp nhận trải qua thời gian chờ đằng đẵng, và cố gắng đưa các lá thư các gói đồ đến cho người thân yêu của mình.  Một sáng nọ, khi họ đang chờ đợi, mà chẳng biết phải chờ đến lúc nào, thì một bà nhận ra Akhmatova, và hỏi: “À, chị là nhà thơ.  Chị có thể cho em biết chuyện gì đang xảy ra ở đây không?” Akhmatova nhìn bà này và trả lời: “Vâng, em có thể!” Và rồi giữa hai người hé một nụ cười.

Tại sao lại cười?  Chỉ là vì, khi có thể định danh chuyện gì đó, thì cho dù có vô lý hay bất công, có bất lực để thay đổi nó, vẫn là chúng ta đang tự do, đang đứng trên nó, biến đổi nó theo cách nào đó.  Định danh điều gì đó cho đúng, phần nào giải thoát chúng ta khỏi sự thống trị của nó.  Đây là lý do vì sao các chế độ chuyên chế sợ hãi các nghệ sĩ, nhà văn, nhà phê bình tôn giáo, nhà báo, và ngôn sứ.  Họ định danh mọi sự.  Đây chính là chức năng tận cùng của ngôn sứ.  Các ngôn sứ không báo trước tương lai, nhưng là định danh hiện tại cho đúng.  Richard Rohr thích nói rằng: Không phải mọi sự đều có thể được sửa chữa và chữa lành, nhưng mọi sự cần được định danh cho đúng.  James Hillman thì có cách của mình để thể hiện điều này.  Ông đề xuất rằng một triệu chứng đau đớn nhất khi nó không biết mình thuộc về sự gì.

Và điều này có thể hữu ích cho chúng ta để giải quyết nỗi sợ hãi trong đời mình.  Nỗi sợ có thể khiến chúng ta vô lực.  Nhưng, định danh nó cho đúng, nhận ra triệu chứng này do đâu, và nhìn nhận sự bất lực của chúng ta trong hoàn cảnh đó, có thể giúp chúng ta sống với nỗi sợ đó, sống mà không buồn sầu hay giận dữ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

*********

Lạy Chúa,

hôm nay con bỗng sợ nhiều thứ
sợ thời gian, sợ chặng đường phía trước…
Con sống trong tâm trạng hoang mang
thấy bóng tối cứ bao phủ lấy con.
Con vùng vẫy và muốn tìm lối thoát
thực sự là con rất sợ!

………………………..

Xin dạy con sống Thánh, bằng việc sống tốt giây phút hiện tại
và vượt qua sợ hãi, bằng việc không quá bận lòng về tương lai.
Xin cho con có sức mạnh của Chúa
để không khó khăn nào có thể khuất phục được con
Xin cho con luôn vững tin vào Chúa
rằng trong Chúa mọi sự đều có thể.
Và xin cho mỗi bước con đi, mỗi việc con làm
đều in đậm Tình Yêu nhưng không của Chúa.

 Quỳnh Trâm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

THƯ TRẺ EM GỬI CHÚA

Sau đây là những bức thư có thật mà một số em bé Tây Phương đã viết gửi cho Chúa.  Khi dịch những lá thư này, chúng gợi cho tôi ít nhiều suy nghĩ.  Tôi tưởng tượng xem nếu phải trả lời bằng ngôn ngữ của nhân loại thì Chúa sẽ trả lời thế nào nhỉ?

Những ý tưởng ngay sau mỗi lá thư của các em là một chia sẻ của người dịch.  Nếu qua đó bạn thấy được hình ảnh một Thiên Chúa nhân ái, quảng đại và tốt lành thì hãy nhân lên đến vô cực: hẳn Người đúng là như thế!  Nhưng nếu bạn cảm thấy nơi Người một chút gì kỳ cục xa lạ, thì đấy là do sự thiển cận, hẹp hòi và ngu muội của riêng tôi chứ không liên can gì đến Người cả !

Chúa ơi, Trời mưa suốt kỳ nghỉ nên cha của con rất bực mình!  Ông ấy đã nói về Chúa một vài điều không nên nói, nhưng con hy vọng Chúa sẽ không phạt ông.  Bạn của Chúa (nhưng con không cho Chúa biết con là ai đâu!)

Không đâu con ạ.  Ta không phạt ba con đâu.  Ông ấy nói nặng lời với Ta nhưng ít ra ông ấy cũng còn nhớ đến Ta.  Nhiều người hiện nay không còn nhớ tới Ta nữa.  Nhưng riêng con, con có nhớ tới Ta khi mọi việc đều tốt đẹp không?  Hãy nhớ thay cho những kẻ không còn nhớ đến Ta, cho những kẻ chỉ biết trách Ta khi mọi việc tồi tệ.  Nếu con biết hân hoan khi mọi việc tốt đẹp, con sẽ thấy rằng số lần con hớn hở thì nhiều gấp trăm ngàn số lần ba con bực mình và tiếng nặng tiếng nhẹ với Ta đấy. Chúa của con, và cũng là bạn của con (Ta biết con là ai nhưng Ta cũng không nói ra đâu).

Chúa ơi, con từng nghĩ rằng màu cam không thể hòa với màu tím, cho đến khi con nhìn thấy hoàng hôn mà Chúa đã vẽ vào chiều thứ ba vừa rồi.  Thật là tuyệt!  Eugène.

Eugène con, thật ra còn nhiều điều tuyệt diệu khác mà con không để ý để nhìn thấy đấy.  Hôm nào con thử nhìn vào một cọng cỏ, một lá cây, một viên sỏi… rồi con sẽ thấy rằng nội việc con có thể nhìn thấy chúng đã là điều tuyệt diệu rồi!  Nhiều người sống dựa trên thói quen và dần dần không còn biết vui hưởng những kỳ công Ta ban cho họ từng giây từng phút.  Nhưng riêng con, thì đừng nên làm thế, con nhé.

Chúa ơi, Chúa thật sự muốn cho con hươu cao cổ nó có hình dáng đúng như vậy, hay đấy đó chỉ là chuyện tình cờ ngoài ý muốn, hả Chúa?  Norma.

Norma con, Đúng là Ta đã muốn tạo ra con hươu cao cổ có hình dáng như thế đấy.  Con không thấy rằng mỗi một sinh vật đều rất độc đáo sao?  Và trong mọi sinh vật thì con người là độc đáo nhất.  Con đừng coi thường hươu cao cổ nhưng cũng đừng mong mình làm phượng hoàng.  Hãy để ý cái độc đáo trong con và con sẽ thấy rằng tất cả những sinh vật quanh con đều thật độc đáo, nhất là con người, và không ai thay thế con người được đâu!

Chúa ơi, thay vì để cho người ta chết đi và phải mất công làm ra những con người khác, sao Chúa không chịu giữ mãi những người mà Chúa đang có hiện nay nhỉ?  Jane

Jane con, Thật ra không ai chết cả con à.  Mọi người Ta dựng nên đều phải dần dần lớn lên để trở thành tuyệt đối.  Con cũng sẽ lớn lên, thay đổi, cho đến một ngày con được viên mãn và sống với Ta, Đấng đã dựng nên con.  Dĩ nhiên, thân xác con nó nặng nề thì con phải tạm bỏ nó lại sau một giai đoạn nào đó.  Người ta gọi đó là chết, nhưng con hãy biết, đó chỉ là đổi thay.  Và con phải chuẩn bị cho cái ngày đặc biệt ấy, con nhé!

Chúa ơi, ai đã vẽ những lằn ranh quanh các quốc gia vậy Chúa?  Nan.

Bé Nan của Ta, Chính con người đã vẽ lên đấy con ạ.  Khi Ta tạo dựng trái đất, ta trao ban tất cả cho loài người và không vẽ bất cứ một lằn ranh chia cách nào.   Loài người – nhân danh tổ quốc, màu da, chủng tộc – đã chia vụn ra từng mảnh cái quả đất mà Ta đã ban trọn vẹn cho con người.  Con người đã được nhồi sọ để trở thành người Pháp, người Mỹ, người Việt Nam, mà quên rằng trước khi là Pháp, Mỹ, Việt, họ phải là “người.”  Và trái đất này là của con người, vì Ta đã ban trọn vẹn cho loài người chứ không dành một mảnh nào riêng cho dân tộc nào, dù đó là dân Ta đã từng tuyển chọn như dân Ít-ra-en.

Chúa ơi, con đi dự đám cưới, và họ hôn nhau ngay trong nhà thờ.  Như vậy có được không hả Chúa?  Neil.

Được con ạ!  Người ta có thể hôn nhau trong nhà mình thì sao lại không thể hôn nhau trong Nhà Thờ là Nhà của Ta, nghĩa là nhà của Cha họ nhỉ?  Thế nhưng nụ hôn phải là biểu hiện của tình yêu.  Có những người hôn nhau vì ích kỷ, vì tư lợi, vì thỏa mãn một đòi hỏi thấp hèn, những người ấy dù hôn nhau ở nơi chốn nào thì cũng không đúng chỗ cả.

Chúa ơi, cám ơn Chúa vì đã ban cho con một đứa em trai, nhưng rõ ràng là con xin Chúa một chú chó con cơ mà ! Joyce.

Joyce bé bỏng của Ta, ba con dưới đất chưa bao giờ tặng cho con một điều gì nhiều hơn con xin sao?  Vậy vì sao Ta là Cha của con ở trên Trời lại không cho con được một điều còn cao hơn cái con xin gấp triệu lần ư?  Nhưng này Joyce, con hãy chăm sóc em con vì thương nó, chứ đừng giống như chăm sóc con chó vì như vậy là con chỉ thương chính con thôi.  Món quà càng quý thì yêu cầu chăm sóc món quà ấy càng cao, nhớ nhé !

Chúa ơi, xin gởi cho con một con lừa.  Từ trước tới giờ, con chưa xin Chúa một điều gì.  Xin Chúa lưu ý giùm con nghe! Bruce.

Bruce của Ta ơi, từ trước tới giờ con chưa xin Ta điều gì.  Nhưng Ta cũng lưu ý con là dù con không xin, Ta cũng đã ban cho con thật nhiều mà con không nhận ra đấy.  Con thử hít vào mà xem.  Ta ban cho con không khí để thở bao nhiêu năm qua… Ta ban cho con cặp mắt để nhìn, đôi tai để nghe… và bao nhiêu là thứ.  Để Ta xem, khi ban cho con một con lừa thì tốt hơn cho con chăng, rồi ta sẽ quyết định nhé.  Nhưng nếu con chưa thấy đủ với những điều Ta đã ban, thì có thêm một con lừa hay 100 con lừa đi nữa, con cũng chẳng thấy vui hơn đâu.

Chúa ơi, nếu phải sinh lại làm một cái gì đó, xin đừng để con trở thành Jennifer Horton, vì con ghét nó lắm ! Denise.

Denise ơi, Ta buộc phải làm trái ý con mất rồi.  Con phải sinh lại làm Jennifer thôi.  Chẳng những như thế, con có thể phải sinh lại làm mọi người khác.  Con của Ta là Chúa Giê-su của con cũng đã sinh ra làm người, và Ngài đã trở nên giống mọi người.  Vậy con muốn làm con của Ta, nghĩa là muốn giống Chúa Giê-su, thì con cũng buộc phải sinh lại thành Jennifer, ít ra là trong lòng mình, và yêu thương nó thay vì ghét nó, con ạ !

Chúa ơi, con muốn khi lớn lên thì con giống ba, nhưng đừng có nhiều lông khắp người như ông ấy, Chúa nhé!  Sam.

Chú Sam bé bỏng của Ta này, con không nên giống như ba con khi lớn lên con à, dù có lông hay không có lông cũng vậy.  Con phải giống chính con cơ.  Vì con là độc nhất đối với Ta cơ mà.

Chúa ơi, thỉnh thoảng con có nhớ đến Chúa, dù là khi đó con không cầu nguyện.  Elliot.

Bé Elliot ơi, lâu lâu con mới nhớ đến Ta một lần, còn Ta thì lúc nào cũng nhớ đến con, con có biết không?

Chúa ơi, con nghĩ, thật là khó khăn cho Chúa khi phải yêu thương hết mọi người trên thế gian này.  Gia đình con chỉ có bốn người, thế mà con không thể nào thương cho hết được.  Nan.

Đúng như vậy, con ạ.  Con người ta thật là hết sức khó thương.  Nhưng Ta yêu thương mọi người không phải vì họ dễ thương, mà vì Ta là Tình Yêu, và Ta không thể làm gì khác hơn là yêu thương.

Chúa ơi, trong số những người từng làm việc cho Chúa, con thích ông Nô-ê và vua Đa-vít hơn hết.  Rob.

Bé Rob của Ta ơi, trong tất cả những người đã Ta tạo dựng, ta đều thích từng người một, trong đó có con, và Ta không hề so sánh người này với người kia.  Mỗi người đều có một chỗ đặc biệt trong tim Ta đấy.

Chúa ơi, các anh con nói rằng con được sinh ra, nhưng hình như không đúng.  Họ nói đùa, phải không Chúa?  Marsha.

Marsha con, các anh con nói đúng đấy. Con đã được sinh ra.  Sinh ra đến hai lần.  Hình hài con là do cha mẹ con sinh.  Và linh hồn con thì do Ta sinh.  Con hãy gắng mà yêu quý những gì trước kia con không có mà bây giờ con đã có qua việc tác sinh ấy.

Chúa ơi, nếu Chúa chịu nhìn con một chút trong Nhà Thờ vào Chúa Nhật này, con sẽ cho Chúa xem đôi giày mới của con đấy!  Mickey.

Chú Mickey dễ thương của Ta, con có thể cho Ta xem ngay bây giờ chứ không cần phải đợi đến Chúa Nhật, vì lúc nào Ta cũng đang nhìn con cơ mà.  Ta rất vui vì con muốn cho Ta xem đôi giày, nhưng Ta sẽ vui hơn nếu con biết rằng Ta có góp phần để con nhận được đôi giày ấy đấy nhé.

Chúa ơi, chúng con đọc trong sách rằng ông Thomas Edison đã thắp sáng.  Nhưng trong lớp Giáo Lý, chúng con học rằng Chúa đã dựng nên ánh sáng.   Vì vậy, con nghĩ rằng ông ấy đã ăn cắp sáng kiến của Chúa đó!  Chân thành, Donna.

Bé Donna yêu quý, ông không ăn cắp sáng kiến của Ta đâu.  Ta đã vui lòng tặng cho ông ấy cái sáng kiến đó, và ông ấy đã chế ra bóng đèn để giúp ích cho nhân loại.  Có nhiều điều Ta cũng ban cho con… mà càng lớn lên con càng thấy rõ.  Hãy phát huy chúng vì lợi ích của mọi người, con nhé.

Chúa ơi, con nghĩ rằng không có ai tốt lành hơn Chúa.  Con muốn Chúa biết điều đó, nhưng con không nói ra bởi vì Chúa đã là Chúa rồi.  Charles.

Charles ơi, đúng, đúng lắm, Ta là Chúa và không cần một lời ca ngợi nào.  Nhưng nếu con có thể nói lên điều đó thì con sẽ sung sướng hơn, vì con sẽ luôn ý thức rằng Ta không bao giờ thiếu lòng nhân hậu đối với con, dù con đang ở trong bất cứ tình huống nào.

Chúa ơi, có lẽ Ca-in và A-ben hẳn đã không giết nhau nếu mỗi người ở một phòng riêng.  Con với anh con ổn lắm.  Steven.

Steven này, không phải vì Ca-in và A-ben không có phòng riêng mà họ giết nhau đâu… Chính vì Ca-in muốn dành cả những gì A-ben có, nên mới giết em mình.  Anh em con rất ổn, vì không ai muốn chiếm phòng của nhau.  Thế thôi!  Con hãy cầu mong sao trên thế gian này không có ai muốn chiếm phòng của người khác, căn phòng mà Ta dành cho mỗi người.  Nhưng điều này khó lắm đấy… Biết làm sao được, khi Ta đã cho phép con người ta được sống tự do theo ý mình cơ mà.

Còn bạn ? Bạn sẽ trả lời các em bé như thế nào ?

 Gs. Trần Duy Nhiên

CÁC CON HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN… (có Youtube)

Trong những năm gần đây phong trào canh tân đoàn sủng phát triển mạnh trong Giáo Hội Tin Lành và trong giáo Hội Công Giáo, có người gọi đó là mùa xuân của Giáo Hội đang là sức sống mới.  Nhưng cũng có người đang nhìn phong trào này với thái độ cảnh giác.  Họ sợ rằng nó sẽ đi xa đường lối của Giáo Hội.  Tôi không có ý phân tích phê phán, nhưng theo tôi phong trào có một điểm mà chúng ta có thể ghi nhận.  Phong trào giúp cho ta ý thức hơn về vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời Kitô Hữu.  Một vai trò mà nhiều khi chúng ta lãng quên.  Có lẽ phần nào nó cũng giống như một nhà khoa học ở trong phòng thí nghiệm.  Ông ra sức nghiên cứu về không khí như là một vật thể và mô tả không khí bằng những công thức khoa học có vẻ phức tạp mà ông quên rằng, từng giây từng phút mình đang được ngủ lặng trong không khí mà đôi khi mình quên hít thở.  Cho nên sự sống thân xác của mình mỗi lúc mỗi tàn tạ.

Tôi xin lấy một hình tượng quen thuộc trong Kinh Thánh để diễn tả về Chúa Thánh Thần.  Thánh Luca mô tả: Vào ngày lễ ngũ tuần các môn đệ tề tựu cầu nguyện.  Khi ấy có những lưỡi như lưỡi lửa rải rác đậu xuống trên mỗi người.  Lửa là hình tượng Kinh Thánh dùng để diễn tả về Chúa Thánh Thần trong chúng ta.

Hôm nay tôi xin nhắc lại và đào sâu hơn hình tượng Thánh Gioan Thánh Giá sử dụng.  Ngài là người có kinh nghiệm thần bí sâu sắc đồng thời là một nhà thơ cho nên ngài đã vận dụng ngôn ngữ thi ca để diễn tả kinh nghiệm thần bí đó.  Đó là hình ảnh của lửa, của củi.

Chúng ta thử tưởng tượng cảnh mùa đông băng giá ở Châu Âu, ngoài vườn có một khúc củi nằm cô đơn giữa tiết trời băng giá.  Cái lạnh làm cho làn da của nó xần xùi, xấu xí.  Thế rồi nó được ông chủ nhà đem vào quăng vào lò sưởi.  Hơi nóng làm khúc củi cảm thấy ấm áp, hạnh phúc.  Nó cảm nhận được đầy sự an ủi không tả được.

Nhưng tiếc rằng sự sung sướng kéo dài chẳng được bao lâu.  Trong khoảnh khắc ngọn lửa ôm chặt lấy nó.  Sức nóng của lửa nung nấu khiến cho nhựa cây rỉ ra bên ngoài làm thành một lớp da sần sùi như da cóc.  Nó tỏa ra một mùi thật khó chịu.  Khúc củi quằn quại trong than hồng một thời gian.  Cuối cùng nó trở nên một với lửa.  Nó không còn là củi mà chỉ là lửa.  Lửa đem ánh sáng, lửa đem hơi ấm cho những người trong phòng.

Gioan Thánh Giá dùng hình ảnh tuyệt vời ấy để diễn tả về tác động của Chúa Thánh Thần trong đời sống chúng ta.  Hình ảnh ấy giúp chúng ta thấy được đâu là cùng đích của đời sống trong Thánh Thần.  Cái cùng đích ấy là Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta được nên một với Thiên Chúa.  Như Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu nói: “Ta trở thành một giọt nước hòa trong đại dương.”  Sự nên một ấy chỉ trở thành trong đời sống vĩnh cửu cho những người mà Chúa ban cho kinh nghiệm thần bí, những người cảm nghiệm được sự nên một hồng phúc với Thiên Chúa.

Chúng ta chưa có được kinh nghiệm huyền bí đó.  Nhưng tôi nghĩ: Nếu chúng ta thực hiện đúng những bí tích mà Giáo Hội cử hành là chúng ta đã đi đúng mục đích của Giáo Hội, dẫn ta đến chỗ nên một với Thiên Chúa.  Khi ta rước mình Thánh Chúa và để Máu Thánh Chúa hòa vào máu thịt ta để ta nên một với Ngài.

Sự nên một xét trên một bình diện mà người ta gọi là hữu thể học đó hoàn toàn có thật nhưng không ai thấy được.  Sự nên một ấy phải diễn tả qua cuộc sống bên ngoài theo kiểu nói của thánh Phaolô.  “Anh em hãy mang trong anh em những tâm tư như đã có trong Chúa Giêu Kitô.”  Cho nên khi nào chúng ta nên một với Chúa thật thì ta sẽ suy nghĩ như Chúa Giêsu, phản ứng như Chúa Giêsu, cảm xúc, yêu thương như Chúa Giêsu.  Đấy là dấu chỉ cụ thể.  Đấy là cùng đích.

Nhưng để đạt được tới cùng đích nên một trong Thiên Chúa ấy thì chúng ta phải trải qua một hành trình thanh tẩy của Thánh Thần.  Hành trình này khởi đầu bằng một niềm an ủi ngọt ngào.  Có một số kinh nghiệm nói lên điều ấy.  Có anh chị em dự tòng nói với tôi: “Thưa Cha, con xin gì Đức Mẹ cũng cho con hết.”  Những tu sinh hoặc những nữ tu mới chập chững bước vào đời sống tận hiến: “Thưa Cha, con cảm thấy hạnh phúc vô cùng.”  Những lúc ấy ai cũng ca ngợi Chúa, cảm thấy rất ư là dễ thương.  Chúa yêu ta vô cùng.

Thưa anh chị em.  Đấy chỉ là giai đoạn đầu.  Sớm hay muộn gì chúng ta cũng được Chúa Thánh Thần dẫn vào giai đoạn thanh tẩy, giai đoạn đau đớn, giai đoạn này sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn.  Vì nó đau đớn cho nên ta không muốn bước vào, không dễ chấp nhận.

Tôi nghĩ có hai lý do chính và cũng là hai giai đoạn chính.

Lý do thứ nhất: Thánh Thần giúp chúng ta chấp nhận con người thật của mình.  Có lẽ nhiều người sẽ ngỡ ngàng khi nghe thế.  Chúa Giêsu nói: “Hãy yêu tha nhân như chính mình.”  Nếu tôi không yêu chính mình thì tôi không thể yêu người khác được.  Yêu chính mình là chấp nhận con người thật của mình.  Chấp nhận hình hài mà Chúa đã ban cho mình.  Anh chị em thử kiểm nghiệm lại đời sống của mình xem.  Đã biết bao lần ta mơ ước những điều mà chúng ta không có.  Ví dụ: Phải chi Chúa ban cho mình sóng mũi cao hơn tí nữa thì đẹp biết bao.  Hay phải chi da mình được trắng như bạn mình nhỉ…  Những mơ ước ấy biểu lộ điều chúng ta không chấp nhận chính mình.

Những suy nghĩ ấy làm cho ta tự mình dằn vặt mình.  Tự mình hành hạ mình, tự gây đau khổ cho mình bằng những tự ti mặc cảm.  Phải đau đớn lắm, phải tự đấu tranh mới chấp nhận chính con người thật của mình.  Chúng ta hãy kêu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta thực hiện để chúng ta tự nhủ rằng: Dù tôi thế nào đi nữa Chúa vẫn yêu tôi.  Chúa tạo dựng tôi cho Chúa.  Cảm nhận được như thế sẽ làm cho ta thấy bình an hạnh phúc hơn.

Lý do thứ hai: Chấp nhận được chính mình rồi thì đến giai đoạn hai của sự thanh tẩy.  Đi từ chỗ “tôi đang là” đến chỗ “tôi được mời gọi để trở thành…”  Ở đây đòi hỏi sự bỏ mình.  Cuộc sống Thánh Augustinô là một điển hình.  Lúc trẻ ông xa vào con đường ăn chơi, mê đắm trên con đường tình dục, biết là sai nhưng ông vẫn biện minh cho mình, không nhìn nhận sự thật của chính mình, ông bảo: “Sở dĩ tôi bê bối thế vì ông thần ác ở trong hoành hành.”  Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, Thánh Augutinô mới đủ can đảm nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi.  Từ đấy ông đã bước vào giai đoạn hai.  Ông trở thành một người sống như Chúa Giêsu, yêu thương, phục vụ, suy nghĩ như Giêsu.  Một con người trong Chúa Thánh Thần.

Chúng ta phải trở thành cái mà Chúa mời gọi chúng ta.  Đó là gì?  Thưa là mỗi ngày tôi trở thành người hơn.  Cho dù tôi sống bậc gia đình hay tu sĩ, cho dù tôi hành động gì nhưng vẫn hàm ẩn tất cả bên trong là cái tính người, là tính Kitô Hữu.  Và hành trình đó đòi chúng ta phải tự bỏ mình mỗi ngày. Công việc ấy rất khó, một mình ta không thể làm được mà phải có tác động của Chúa Thánh Thần.  Hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần sống như không khí tràn ngập vũ trụ, vấn đề là tôi có hít thở không?  Chúa Thánh Thần như dòng suối tràn lan mọi nơi.  Vấn đề là tôi có múc mà uống không?  Chúa Thánh Thần là ngọn lửa hừng hực, vấn đề là tôi có nhóm lên hay không? Cho nên cầu nguyện là tự tạo cho mình một nội tâm thích hợp.  Mở lòng ra cho gió ùa vào, làm rỗng chính mình cho dòng nước chảy vào, và nhóm ngọn lửa lên cho đời mình.

Nếu chúng ta chấp nhận trở về với chính mình trong thinh lặng, nhìn lại đời mình, ta có thể khám phá ra những gì mà Lời Chúa hướng dẫn chúng ta hôm nay.

Tôi xin kết thúc suy niệm này bằng tâm tình của Thánh Augustinô. “Lạy Chúa là vẻ đẹp ngàn đời, vẻ đẹp cổ xưa nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ.  Con đã chạy tìm những cái đẹp bên ngoài vốn chỉ là phản ánh èo uột của vẻ đẹp vĩnh hằng.  Chúa là vẻ đẹp vĩnh hằng ở trong con thì con lại không kiếm tìm.  Vì thế, xin Chúa cho con biết trở về với chính lòng mình mỗi ngày, để ở đó con gặp được Chúa, hít thở Chúa.  Con đón nhận dòng nước ân sủng và lòng con được đốt cháy ngọn lửa Thánh Thần.  Amen!”

 ĐGM Nguyễn Văn Khảm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

NGƯỜI KHÔNG XEM THẤY ĐƯỢC THẤY

Nhìn vào hành trình làm nhân chứng khá cam go của người mù được sáng mắt, qua bài Tin Mừng hôm nay, tôi nhớ lại những gì mà chị Vũ Thủy, một thành viên khuyết tật của Huynh Đoàn Kitô Vua thuộc giáo xứ Mai Khôi, đã ghi lại cảm nghiệm của mình bằng vào những vần thơ thật xúc tích và cũng thật chân thành đơn sơ.

Chị đã viết trong bài thơ “cô gái mù và ly cà phê trắng”[1] tâm tình sâu lắng như sau:

“Ly cà phê trước mặt,
ngụm đắng nhuộm cuộc đời?
Cuộc đời trắng hay đen, thành công hay thất bại?
Hãy hỏi lòng mình chọn trắng hay đen.”

Chị đã phải đấu tranh rất nghiệt ngã trước số phận khi đôi mắt của chị trở nên mù lòa lúc tuổi đời còn rất trẻ, tuổi ô mai nhí nhảnh.  Bao nhiêu ước mơ chân chất thơ ngây giờ đây đổ ập xuống ngay trước cuộc đời đầy thơ mộng.  Bao nhiêu dằn vặt chán chường tê tái khổ đau khi phải sống trong cảnh tối tăm, trong cay đắng tủi hờn….

Thế rồi, nhờ vào sự chăm bẵm yêu thương của cha mẹ, của anh chị em và bè bạn, chị cũng phần nào chấp nhận số phận đen bạc.  Cho đến một ngày, chị nhận ra tiếng gọi thâm sâu của lời Chúa Giêsu nói với chị mà người thân của chị đã đọc cho chị nghe.  Lời Chúa đã gieo vào tâm hồn chị một sự bừng sáng với một niềm ủi an bất tận khi chị suy đi nghĩ lại trong lòng Lời Hằng Sống:  Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 28)

Sau những lần gẫm suy và cầu nguyện, chị đã bừng sáng lên niềm tin tuyệt diệu như sau này chị ghi lại trong bài thơ “Món quà Thượng Đế”:

“Vừa chập chững bước vào đời
Thượng Đế thương tặng tôi
món đồ chơi Thập Tự.”

Tôi cảm nhận như chị đã sống cùng với niềm vui của người mù bẩm sinh sau khi được “Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù và bảo: “Anh hãy đến hồ Silốac mà rửa” (Silốac có nghĩa là: người được sai phái).  Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì thấy được.” (Ga 9, 6-7).  Quả thật, với tâm tình của một trẻ thơ đơn sơ trong trắng và hèn kém trong thân phận bùn đất của con người, chị được Chúa nhào nặn và tặng ban đôi mắt mù lòa như một món đồ chơi mà chị gọi tên là “món đồ chơi Thập Tự”.

Thế nhưng chưa hết:

“Theo năm tháng, Thập Tự lớn cùng tôi,
có những lúc trổ gai làm trái tim rướm máu,
lúc trơn bóng đẫm mồ hôi, tôi tần tảo.
Khi tôi ngã,
Cây Thập Tự vững vàng như giá đỡ,
tôi bám lấy cùng niềm tin trỗi dậy.”

Chính những lúc như thế, tôi liên tưởng đến những cay đắng mà người mù từ thuở nhỏ đã phải gánh chịu trước những áp bức của nhóm Pharisêu:  Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” Rồi họ trục xuất anh.” (Ga 9, 34)

Và đây cũng chính là nỗi niềm mà Vũ Thủy đã thầm thì với Nàng Thơ:

“Khi bật khóc,
Thập Tự âm thầm lau nước mắt cho tôi,
và tôi thấy trái tim thơ trẻ lại.”

Nhưng qua sự nâng đỡ của nhiều người, nhất là thầy Phong, phụ trách Mái Ấm Thiên Ân, dậy cho chị chữ nổi (chữ braille) và vi tính cùng nhiều những bàn tay chia sẻ khác, nên chị đã gửi gấm tâm sự trong thơ:

 “Cả bầu trời trước mặt,
đôi mắt con không thấy ánh mặt trời.
Nhưng với con, cuộc đời đầy nắng ấm,
Bởi quanh con, đã có những bàn tay
Trao cả con tim, xiết chặt tình người.
Đôi chân con bước đi vững chãi,
Bởi có những bàn chân đi mở lối tâm hồn
Gieo hy vọng cho người mù tăm tối.
Ly cà phê cho con ngọt ngào hơi sữa,
Bởi nó như cuộc sống đầy bao dung,
Đã cho con ngọt bùi trong cay đắng.”

Và rồi chị đã khẳng định với một niềm xác tín không còn lay chuyển:

“Cuộc đời trắng hay đen?
Riêng cô gái mù thấy ly cà phê trắng,
Bởi dòng sữa yêu người, đời đã ban cho.
Cô gái tay hướng về Thượng Đế:
“Xin cảm ơn Người, Người mãi bên con!”

Một lần nữa, khi nghe vang lên những lời bộc bạch sâu xa và thấm đậm yêu thương này của Vũ Thủy, tôi vô cùng xúc động vì chị đã viết lên niềm tín thác tuyệt vời vào Đức Giêsu như anh mù trong Tin Mừng hôm nay đã thưa với Người rằng:

““Thưa Ngài, tôi tin”.  Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.” (Ga 9, 38)

Hiện nay, thay vì than khóc hết ngày rồi lại đêm, oán trách số phận hẩm hiu cô quạnh, chị đã vươn lên trong sức mạnh Thập Tự bằng cách quên mình để phục vụ cho những người đau khổ khác tức “sấp mình xuống trước mặt Người”, bởi chính những người này là hiện thân của Đức Kitô vậy.  Chị đã sống thâm sâu lời mặc khải của Đức Giêsu đã nói với anh mù cũng như với tất cả hậu thế:

“Tôi đến thế gian này,
chính là để xét xử:
cho người không thấy được thấy
và kẻ xem thấy lại nên đui mù.” (Ga 9, 39)

Quả thật, có biết bao nhiêu người nhìn và chứng kiến những mảnh đời bất hạnh khác, nhưng đã quay mặt đi với họ.   Còn chị Thủy đã không thấy tận mắt những người đau khổ kia, nhưng chị đã được Chúa ban cho một trái tim nồng nàn yêu thương trong sức mạnh Tình Yêu Thập Tự của Người.

Khi tôi đựơc gặp gỡ nghe chị bộc bạch sẻ chia, chị đã giúp tôi thêm sức mạnh để biết mở lòng ra với tha nhân đang sống trong cảnh tối tăm của thể xác bệnh hoạn, của tâm hồn đen tối trong lầm lạc sa ngã.  Và tôi đã thấu hiểu trái tim của Chúa Giêsu khi Thần Khí Lời Ngài đang trào dâng trong tâm hồn và trái tim tôi là đừng bao giờ trở nên “kẻ xem thấy lại nên đui mù”.

Mà hãy nhìn xem Vũ Thủy tích cực sống như thế nào để không còn trở nên đui mù một lần nữa:

“Khi tìm đến với những người trong đơn lẻ,
với Thập Tự bẻ đôi, tôi chia sẻ
hạnh phúc có, buồn đau cũng có,
và nỗi cô đơn cũng chẳng còn.”  (Món quà Thượng Đế)

Tôi xin mượn câu cuối cùng của chị Vũ Thủy, nhà thơ khiếm thị, trong bài thơ “Cô gái mù và ly cà phê trắng”, mà dâng lên Chúa với tất cả tâm tình :

Xin cám ơn Người, Người mãi bên con.” Amen.

Phêrô Vũ văn Quí CVK64

Email: peterquivu@gmail.com

[1] Xin xem và nghe thơ của chính Vũ Thủy đọc nơi địa chỉ sau dây:

http://daminhvn.com/thuvien/dongdaminh/congtacxahoi/ctxh-dminh/video_clip.htm

MÙ LÒA

Trong một chuyến đến thăm ngôi trường khiếm thị duy nhất của thành phố, tôi chạnh lòng nhìn cảnh một số em quờ quạng với chiếc gậy trên tay, có em lại bám vào vai bạn và cả hai cùng lần bước… Còn đến khi vào lớp, các em lại cẩn thận dùng những ngón tay nhỏ bé gầy guộc để đọc từng giòng chữ Braille trên trang giấy nổi…

Bất chợt, ánh mắt tôi dừng lại ở một em bé có đeo một mẫu ảnh Thánh Giá nho nhỏ trên ngực áo. Tiến lại gần, tôi làm quen với em và được biết rằng:  Trước khi vào trường này, mẹ em đã đeo cây Thánh Giá này cho em và bảo:  “Ðèn của thân thể người ta là đôi mắt, còn với con, thì Thánh Giá sẽ là cây đèn cho con đấy !”

Tôi ân cần hỏi em: “Thế em có thấy vui không ?”  Em bé ngước nhìn lên với đôi mắt đục mờ, trả lời tôi: “Có chứ anh, em đã mất đôi mắt của thân thể, nhưng thật sự thì đôi mắt của tâm hồn em vẫn sáng !”  

Nghe câu trả lời quả quyết ấy, tôi giật mình tự nhủ: Con mắt của tâm hồn mình có còn sáng hay đã tắt ngúm rồi nhỉ ?

(Trích Ðặc San CON ÐỨC MẸ, Xuân 2000)

* * * * *

Bạn thân mến!  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật câu chuyện Ðức Giêsu đã chữa một người mù từ lúc mới sinh, một người lớn lên trong bóng đêm dầy đặc. Ngài cho anh được thấy ánh mặt trời lần đầu tiên, thấy khuôn mặt của những người thân thuộc.  Nhưng quan trọng hơn, anh đã thấy và tin vào Ðức Giêsu, Ðấng là Ánh Sáng của thế giới.  Sau khi được sáng mắt, anh đã bước vào một cuộc hành trình đức tin đầy cam go.  Lúc đầu, Ðức Giêsu chỉ là một người mà anh không quen không biết.  Sau đó, anh dám khẳng định trước mặt mọi người Ngài là một ngôn sứ, là người bởi Thiên Chúa mà đến.  Cuối cùng, anh đã sấp mình để bày tỏ lòng tin vào Ngài.  Ðức tin của anh lớn lên qua những hiểm nguy và đe dọa.

Ngược với thái độ hồn nhiên và bình an của anh là thái độ bối rối bất an của giới lãnh đạo Do Thái Giáo.  Họ cứ hỏi đi hỏi lại về cách thức anh được chữa lành.  Cha mẹ của anh cũng được điều tra cẩn thận.  Trước những lập luận vững vàng của anh, họ chỉ biết chê anh là dốt nát và tội lỗi.  Dựa vào một quan niệm hẹp hòi về việc giữ ngày sa bát, họ khẳng định Ðức Giêsu đã phạm tội khi chữa bệnh, tuy họ vẫn không hiểu tại sao một người tội lỗi lại có thể mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.  Giới lãnh đạo Do Thái Giáo không muốn coi Ðức Giêsu là người của Thiên Chúa, vì điều đó đòi họ phải thay đổi lối suy nghĩ và lối sống đạo, thay đổi bộ mặt tôn giáo của cha ông, nhất là đòi họ phải tin và theo Ngài.

Họ tự hào mình là người hiểu biết và đạo đức. Chính niềm tự hào này đã khiến họ khép lại, không có can đảm chấp nhận mình sai lầm, và cố chấp ở lại trong bóng tối.

Mù không phải là một tội.  Cố ý không muốn thấy mới là tội .  Chúng ta ai cũng sợ bị mù, nhưng lắm khi ta lại tự làm cho mình trở nên mù lòa, khi không chấp nhận thực tế về bản thân, khi né tránh sự thật và không muốn lắng nghe ai.

Như những người mù xem voi, mỗi người chúng ta chỉ thấy một phần của thực tại, một phần nhỏ của chân lý. Cần khiêm tốn để nhận mình mù, mù về chính mình, mù về lãnh vực mình thông thạo, vì điều mình biết chỉ là phần nổi của tảng băng, vì con voi không giống như cái cột nhà hay cái quạt.  Thay vì cãi nhau do có cái nhìn khác nhau, chúng ta có thể bổ túc cho nhau, để dần dần đến gần với chân lý trọn vẹn.

* * * * *

Lạy Chúa!  Như thánh Phaolô trên đường về Ðamát, xin cho con trở nên mù lòa vì ánh sáng chói chang của Chúa, để nhờ biết mình mù lòa mà con được sáng mắt.
Xin cho con đừng sợ ánh sáng của Chúa, ánh sáng phá tan bóng tối trong con và đòi buộc con phải hoán cải.
Xin cho con đừng cố chấp ở lại trong bóng tối chỉ vì chút tự ái cỏn con.
Xin cho con biết khiêm tốn để đón nhận những tia sáng nhỏ mà Chúa vẫn gửi đến cho con mỗi ngày.
Và xin cho con hết lòng tìm kiếm Chân lý để Chân lý cho con được tự do và bình an. Amen

R. Veritas

CON SỐ MỘT

Có những thứ trên đời mình chỉ có thể có một.  Trăm ngàn triệu triệu số một chỉ tạo nên có một cuộc đời…

Chỉ có một người mẹ, một người ông, một người bà… để mà yêu thương.  Chỉ có một trái tim, một cái đầu, một bộ óc… để mà suy nghĩ, mà chứa đựng cuộc sống cả trăm điều vạn điều vào đó.  Chỉ có một lần đầu tiên chui ra từ bụng mẹ để bắt đầu một cuộc thăng trầm.  Chỉ có một lần được nghỉ ngơi một cách êm đềm nhất, bỏ hết những âu lo và cả những yêu thương lại phía sau.

Có những thứ trên đời tưởng chừng rất nhiều nhưng xét cho cùng cũng chỉ có một.  Thời gian là vô tận nhưng mỗi khoảnh khắc chỉ trôi qua một lần.  Chỉ có một ngày sinh nhật tuổi 15, một ngày sinh nhật tuổi 20…  Chỉ có một lần bước chân vào trường tiểu học, một lần đầu tiên gặp một ai đó, một lần sau cùng chia tay ai đó…  Dù là sau này có thể gặp rất nhiều lần đầu tiên nữa nhưng đã là với người khác mất rồi.

Có những thứ trên đời rất nhiều, nhưng chỉ có thể chọn một.  Người ta thường chọn món ăn xong rồi lại thèm món của người bên cạnh, vì một lần chỉ nên ăn một bữa ăn.  Dạ dày con người thường hẹp.  Trái tim con người vốn cũng rất hẹp, chỉ có thể chứa được một người.

Hoàng tử Bé [1] chỉ có một.  Trăm năm ngàn năm sẽ không bao giờ có một hoàng tử bé thứ hai.  Hoa hồng của hoàng tử cũng chỉ có một.  Dù trên thế gian có triệu triệu khu vườn, mỗi khu vườn có trăm ngàn đóa hồng giống hệt nhau, cuối cùng cũng chỉ có một đóa hồng cậu đã chăm sóc, đã yêu thương, đã giận hờn…

Thế gian thì vô cùng.  Ước mơ thì vô tận.  Hoàng tử bé đi chu du khắp các thiên hạ cuối cùng vẫn đau đáu nhớ về cái hành tinh bé nhỏ của mình.

Số một cũng có nghĩa là nhất.  Có cái nhất vì có nhiều.  Có cái nhất vì không thể đồng đều.  Mặc dù không phải lúc nào cũng dễ quyết định cái nào là nhất.  Có những cái nhất chỉ có trong một khoảnh khắc, bước sang khoảnh khắc khác đã phải nhường ngôi.  Vị trí cao nhất thường là vị trí bấp bênh nhất.

Bạn yêu thương điều gì nhất trong đời?

Cái làm cho tôi tò mò nhất từ bé đến giờ là lý thuyết về lỗ đen vũ trụ.  Cái gì phía sau đó?  Không ai biết.  Đã rơi vào đó, không thứ gì, kể cả ánh sáng, có thể thoát ra.

Giả sử, chỉ là giả sử thôi, có ai đó đoan chắc với bạn, rơi vào lỗ đen vũ trụ bạn sẽ không chết mà trở nên hạnh phúc nhất đời, cảm thấy được những niềm vui trên đời này không có, sống được một cuộc sống khác mà mỗi khoảnh khắc cũng đáng giá cả một cuộc đời. Chỉ có điều là vĩnh viễn không thể quay lại được.  Bạn có bước vào đó không?

99,99% sẽ trả lời là không.  Tôi cũng vậy, tôi trả lời không.  Mặc dù cuộc sống bây giờ chỉ tạm bình thường.

Giả sử ngược lại, bạn rơi vào đó người bạn yêu thương nhất sẽ được hưởng cuộc sống thần tiên ấy, niềm hạnh phúc bất tận ấy, bạn có bước vào không?

Tôi gật đầu.  Nhưng rồi tôi phải suy nghĩ xem chọn ai để làm người được hưởng hạnh phúc ấy.
Thật khó.  Hóa ra bạn không thể mang cả cuộc sống mà trao hết cho một người.
Số một là duy nhất, là độc đoán, là bướng bỉnh, là cố chấp.
Mọi thứ bắt đầu ở nó.  Nhưng không thể mãi là nó.
Có khi phải là nó. Có khi tự hỏi vì sao phải là nó.
Cuộc đời chứa đầy những số một.
Trăm ngàn triệu triệu số một chỉ tạo nên có một cuộc đời……

Sưu tầm

*******

Lạy Chúa Giêsu, con chỉ có một lần để sống, và cách sống của một lần duy nhất đó sẽ quyết định số phận đời đời của con, là hạnh phúc vĩnh cửu hay nghìn đời tiếc nuối ăn năn.  Cơ hội chỉ đến một lần, dù cuộc đời có nhơ nhuốc hoen ố, xin cho con được một lần biết ăn năn sám hối trở về cùng Chúa vì biết có ngày mai để tạ tội xin ơn thứ tha?  Biết ngày mai trái tim chai đá này có còn xúc động trước những lỗi tội của mình.  Xin cho con biết trân qúy những tháng ngày còn lại dù ngắn hay dài, dù sướng hay khổ.   Chúa ơi, xin nhắc con luôn nhớ rằng con chỉ có một Chúa, một Cha trên trời, một chủ, một quê hương, một mục đích duy nhất trong cuộc sống chỉ có một lần này và một số một vĩnh hằng không đổi chỉ có ở cuộc sống mai sau.  Amen!

[1] Hoàng Tử Bé (tên tiếng Pháp: Le Petit Prince), được xuất bản năm 1943, là một trong những tác phẩm văn học Pháp nổi tiếng thế giới của nhà văn và phi công Pháp Antoine de Saint-Exupéry.