SỰ CHẾT

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.

Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi. Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai.  Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy.  Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì?  Ðâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm?  Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Ðức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi.”

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng!  Hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải.”

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Ðoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta: Hồn ơi!  Mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi!  ăn uống đi!  hưởng đi!  Nhưng Thiên Chúa bảo nó: Ðồ ngốc!  Ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả.  Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Ðấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Ðấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa.  Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn.  Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an.  Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa.  Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Ðể khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.

Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá.  Con không biết con can đảm đến đâu.  Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi.  Ði xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tự nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết.  Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ
Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

CHỌN LỰA KHÔN NGOAN

Đau khổ trong cuộc sống con người không phải là định mệnh.  Đó là khẳng định của đa số các tôn giáo.  Thiên Chúa không bao giờ là tác giả của sự dữ, vì bản tính của Ngài là tốt lành.  Kinh Thánh Cựu ước khẳng định: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1,13).  Lời khẳng định cho thấy rằng: quả là Thiên Chúa có thể cho phép sự dữ xảy ra, nhưng sự dữ không bao giờ có nguồn gốc từ Thiên Chúa.

Hiểu như trên, chúng ta không đổ lỗi cho Thiên Chúa về sự dữ hay điều bất hạnh xảy đến xung quanh mình.  Hiện hữu trên đời, mỗi chúng ta có tự do chọn lựa và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa này.  Trong Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa đã chúc phúc cho những ai tin tưởng phó thác nơi Chúa, và Ngài thấy nỗi bất hạnh của những kẻ tin tưởng người đời.  Ngài cũng đặt song song hai sự chọn lựa để cho thấy sự khác biệt: Tin vào Chúa giống như cây trồng bên suối nước, bốn mùa hoa trái tốt tươi; tin người trần gian giống như cây giữa sa mạc, quanh năm khô cằn tàn lụi.  Thánh vịnh 31 trong phần Đáp ca diễn tả cùng một ý tưởng với Bài đọc I.  Tác giả còn nhắc đến những hậu quả mà ác nhân sẽ phải lãnh nhận.  Họ sẽ như những vỏ trấu bị gió cuốn trôi và biến mất.  Bài Tin Mừng theo thánh Lu-ca ghi lại giáo huấn của Chúa Giê-su về hai hạng người, là những người sẽ được hạnh phúc và sẽ phải đau khổ.  Có người hiểu cách nói của Chúa Giê-su là lời chúc dữ.  Thực ra, Chúa không chúc dữ cho con người, nhưng Chúa cảm nhận được nỗi bất hạnh khốn khổ khi con người chỉ chạy theo những lạc thú và lợi lộc vật chất mà quên đi những giá trị vĩnh cửu.  Người cũng dạy chúng ta phải thận trọng suy xét những hành động và quyết định trong cuộc sống hằng ngày, để cuộc sống không trở nên vô ích, nhưng tìm thấy niềm vui và hạnh phúc giữa những bon chen của đời thường.

Như trên đã nói, con người có tự do lựa chọn điều tốt hay điều xấu cho bản thân mình, cho hiện tại và cho tương lai.  Cuộc sống này cũng giống như một bàn cờ khổng lồ, mà mỗi chúng ta đều đang là những người chơi cờ.  Có những nước cờ đem lại chiến thắng vẻ vang; nhưng cũng có những nước cờ đem lại thất bại ê chề.  Mỗi nước cờ đã đi, người chơi phải mang trách nhiệm, không thể làm lại được.  Cuộc đời cũng thế, mỗi chúng ta phải khôn ngoan chọn lựa để không phải lãnh hậu quả tai hại về danh dự, nhân phẩm, của cải và nhất là hạnh phúc đời sau.

Đối với Ki-tô hữu, sự chọn Đức Ki-tô là một chọn lựa khôn ngoan.  Người là mẫu mực và là lý tưởng cho chúng ta trong lời nói cũng như việc làm. “Ki-tô hữu” vừa có nghĩa là người được xức dầu như Chúa Giê-su, vừa là người phấn đấu để nên giống như Người.  Thánh Phao-lô đã khẳng định (Bài đọc II): Đức Ki-tô không phải một gương mẫu giống như những vĩ nhân ở trần gian, nhưng Người là Con Thiên Chúa, Đấng quyền năng.  Quyền năng ấy đã chứng minh qua sự phục sinh vinh quang.  Giáo huấn của thánh Phao-lô cho thấy những tranh luận thời bấy giờ về việc Đức Giê-su phục sinh.  Nhiều người đã phủ nhận sự kiện này, trong khi thánh Phao-lô lại coi đó là nền tảng đức tin cho đời sống Ki-tô hữu.  Tình trạng này cũng vẫn tồn tại trong thế giới của chúng ta.  Nhiều người coi việc Đức Giê-su sống lại là điều ảo tưởng, do các môn đệ của Người bày đặt ra.  Lý do là họ chưa bao giờ chứng kiến một người đã chết mà ba ngày sau sống lại.  Lập luận như thế là không hiểu mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa.  Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể, vì Ngài đã dựng nên mọi vật từ hư vô và Ngài vẫn đang điều khiển công trình tạo thành của Ngài từng giây từng phút, nhờ đó mà mọi vật hiện hữu và chuyển vận theo một trật tự chung.

Tin vào Đức Giê-su là một chọn lựa cá nhân.  Chọn lựa ấy càng ngày càng rõ nét và triệt để, từng bước thăng tiến với tuổi tác của chúng ta.  Chọn lựa Đức Giê-su không phải chỉ là khẩu hiệu hay nhãn mác bề ngoài, nhưng là một lý tưởng, một đường hướng sống.  Sự chọn lựa ấy sẽ chi phối lời nói, tư tưởng và hành động của Ki-tô hữu.  Một khi đã chọn lựa Đức Ki-tô thì phải chuyên cần thực thi giáo huấn của Người và cố gắng nỗ lực để trở nên giống như Người trong hành động và lời nói.  Khi chọn lựa Đức Ki-tô và tuân theo giáo huấn của Người, chúng ta sẽ là những người có phúc.

Trong cuộc sống, chọn lựa nào cũng đòi hỏi phải hy sinh.  Quả vậy, người ta không thể tìm thấy niềm vui và hạnh phúc khi vừa tôn thờ Thiên Chúa vừa có những thực hành không phù hợp với giáo huấn của Ngài.  Đó là sự tôn thờ ngẫu tượng, hay là lối sống dối trá, giả hình, vu khống và làm hại người khác.  Người chọn lựa Chúa Giê-su và đi theo làm môn đệ của Người sẽ luôn dành cho Người những ưu tiên trong đời sống những thực hành của đời sống hằng ngày.  Hạnh phúc hay bất hạnh, được cứu rỗi hay bị trầm luân, được khen thưởng hay bị kết án… tất cả đều do chúng ta tự do chọn lựa.  Trước mặt chúng ta luôn có hai con đường.  Nếu chúng ta chọn lựa con đường thánh thiện, Chúa sẽ luôn đồng hành và chúc phúc cho chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Lộ Đức (Lourdes) là một tỉnh nhỏ khoảng 6000 dân nằm giữa thung lũng Pyrênê, gần suối Gave.  Hôm ấy là ngày 11 tháng 2 năm 1858.  Trời lạnh lẽo.  Vào buổi trưa, Bernadetta, cô gái 14 tuổi vui tươi, thiếu ăn và quê mùa cùng với mấy người bạn đi lượm củi khô ở bờ suối Gave.

Bỗng một bà mặc đồ trắng hiện ra với cô, trên một tảng đá bao quát cả hang Massabielle.  Vừa sợ lại vừa vui, cô lần chuỗi và không dám tới gần theo lời Bà mời.

Chẳng ai muốn tin cô.  Bị rắc rối chính cha mẹ cô không muốn cho cô trở lại hang đá nữa.  Nhưng có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó.  Cô trở lại hang đá.  Các cuộc thị kiến vẫn tiếp diễn.  Bà lạ nói chuyện và kêu gọi cầu nguyện, rước kiệu và xây dựng một đền thờ tại đây.

Các bậc khôn ngoan chống đối.  Dân chúng lại xúc động.  Công an thẩm vấn Bernadetta.  Cô bình thản trả lời và không hề nao núng trước những lời đe dọa.  Cô cũng không bị vướng mắc vào những tiểu xảo của người thẩm vấn.  Các nữ tu dạy học cũng bất bình.  Nhưng Bernadetta vẫn khiêm tốn lịch sự.

Ngày 25 tháng 2, một đoàn người cảm kích theo cô sau khi cầu nguyện, Bernadetta đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rổi quì xuống.  Theo lệnh bà lạ, cô cúi xuống lấy tay cào đất.  Một dòng nước vọt lên.  Cứ 24 tiếng đồng hồ là có khoảng 120.000 lít nước chảy ra.

Ông biện lý cho gọi Bernadetta tới.  Ông chế giễu, tranh luận và đe dọa cô nữa.  Cuối cùng ông kết luận:

– Cô hứa với tôi là sẽ không tới hang đá nữa chứ?

Nhưng Bernadetta bình tĩnh trả lời cách rõ ràng.

– Thưa ông, cháu không hứa như vậy.

Cha sở lo âu, ngài cấm các linh mục không được tới hang.  Bernadetta tới gặp ngài và nói:

– Bà lạ nói: Ta muốn gặp người ta rước kiệu tới đây.

Ngài liền quở trách và gằn từng tiếng:

– Con hãy nói với bà ấy rằng, đối với cha sở Lộ Đức, phải nói cho rõ rệt. Bà muốn những buổi rước kiệu và một nhà nguyện à?  Trước hết bà phải cho biết tên là gì và làm một phép lạ đã chứ.

Làm xong nhiệm vụ, Bernadetta bình thản ra về.

Đã có những phép lạ nhãn tiền: một người thợ đẽo đá mù lòa đã thấy được ánh sáng, một phụ nữ bại tay sáu năm nay bình phục, báo chí công kích dữ dội và cho rằng: đó chỉ là ảo tưởng.

Nhưng dòng nước vẫn chảy thành suối.  Dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau tới, những kẻ hoài nghi phải chùn bước.  Một em bé hai tuổi bệnh hoạn đang hấp hối trước những cặp mắt thất vọng của cha mẹ.  Họ nghèo lắm, bà hàng xóm đã dọn sẵn cho một cái quách.  Người cha thở dài:

– Nó chết rồi.

Người mẹ chỗi dậy.  Không nói một lời nào, bà ôm đứa trẻ chạy thẳng ra hang đá, dìm nó vào trong dòng nước giá lạnh.  Dân chúng cho rằng bà đã điên lên vì buồn khổ.  Tắm em bé trong 15 phút xong, bà ẵm em về nhà.  Sáng hôm sau, em hết bệnh.  Ba bác sĩ đã chứng thực chuyện lạ này.

Bernadetta vẫn giản dị vui tươi tự nhiên.  Hàng ngày cô trở lại hang đá.

Ngày 25 tháng 3 cô quì cầu nguyện và khuôn mặt bỗng trở nên rạng rỡ.  Rồi cô quay lại nói với vài người có mặt:

– Bà nói: “Ta là Đấng Vô Nhiễm thai”

Vài phút sau, lời Đức Trinh Nữ đã được truyền từ miệng người này sang người khác.  Đám đông cất cao lời cầu khẩn :

– Lạy Đức Mẹ Maria chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Đức Mẹ.

Bernadetta hỏi một người chị bạn thân:

– Vô nhiễm thai là gì nhỉ?

Và cũng không bao giờ cô phát âm đúng chính xác từ ngữ này.

Luôn giữ mình khiêm tốn, Bernadetta đã ẩn mình trong một tu viện.  Lúc 3 giờ chiều ngày 16 tháng Tư năm 1879, cô từ trần, được 36 tuổi.

Dòng nước ở hang Massabielle vẫn chảy.  Người ta lũ lượt tuôn đến cầu nguyện và không biết bao nhiêu ơn lành Đức Mẹ đã ban cho các tâm hồn thiết tha cầu khẩn.  Đức Giáo Hoàng Lêo XIII cho phép mừng việc Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, vào ngày 11 tháng 2, để ghi nhớ 18 lần mẹ đã hiện ra với Bernadetta, kể từ ngày 11 tháng 2 tới ngày 16 tháng 7 năm 1858.

Năm 1907, Đức Piô X cho phép toàn thể Giáo Hội mừng lễ này.  Cùng với Giáo hội, chúng ta kính nhớ biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức và đừng quên chạy đến Mẹ là nguồn suối chảy tràn muôn ơn phúc.

Lm Phaolo Phạm Quốc Túy

CẦU NGUYỆN GIỮ CHÚNG TA KHÔNG ĐI VÀO ĐÁM ĐÔNG

Gần như trong tất cả các tiểu thuyết của mình, Milan Kundera biểu lộ một sự khó chịu cực kỳ và không chấp nhận tất cả mọi dạng hệ tư tưởng, khoa ngôn, và xu hướng nhất thời, những thứ gây nên kiểu suy nghĩ nhóm hoặc kích động đám đông.  Ông nghi ngờ các khẩu hiệu, biểu tình và diễu hành dưới mọi hình thức, bất kể với lý do gì.  Ông gọi tất cả những thứ này là cuộc diễu hành khổng lồ, và trong suy nghĩ của ông, tất cả chúng, không chừa cái nào, luôn luôn dẫn đến bạo động.  Kundera thích các nghệ sĩ vì họ có khuynh hướng tránh xa lý lẽ và động cơ, họ muốn vẽ và viết hơn là đi diễu hành.

Có những động cơ đáng để chiến đấu, và có những bất công và nỗi đau trong thế giới này đòi hỏi chúng ta phải dấn sâu hơn, xa hơn cái mong muốn viết và vẽ của mình.  Vậy mà, phán xét khắc nghiệt của Kundera về mọi kiểu diễu hành và biểu tình, hay nói cách khác là cuộc diễu hành khổng lồ, vẫn là một lời cảnh báo công tâm.  Tại sao?

Vì trong những giây phút suy nghĩ nhiều hơn, chúng ta biết khó đến như thế nào nếu không nắm được một hệ tư tưởng, khoa ngôn, xu hướng nhất thời, kiểu suy nghĩ nhóm, và kích động đám đông, để không trở nên ngu xuẩn mất tỉnh táo.  Chúng ta cũng biết thật khó để nhận ra những gì chúng ta thật sự nghĩ gì và tin, khi đối lập với những gì mà quỹ đạo văn hóa đang vây hãm chúng ta.  Thật khó để tránh được những kiểu thức đương thời.

Nhưng còn khó hơn nữa khi chúng ta muốn xây một nền tảng cho chính mình dựa trên một cái gì đó thâm sâu hơn, hay muốn được bén rễ nơi một quan điểm nằm ngoài cái mà Thomas Hardy đã từng gọi là đám đông điên loạn.  Làm sao chúng ta có được nền tảng là một chiều sâu sẽ giải thoát chúng ta khỏi những hệ tư tưởng, khoa ngôn, xu hướng nhất thời, kiểu suy nghĩ nhóm, và kích động đám đông đầy tinh vi vốn đang làm băng hoại mọi nền văn hóa?

Trong Tin mừng thánh Luca, các môn đệ cảm nhận Chúa Giêsu lấy sự khôn ngoan, điềm tĩnh, sức mạnh, và năng lực từ một sự gì đó nằm ngoài Ngài, có nghĩa là Ngài đặt bản thân nơi một sự gì đó vượt ngoài những cạm bẫy và đe dọa của giây phút hiện tại.  Họ cảm nhận được Ngài tìm thấy sự thâm sâu đó nơi cầu nguyện.  Họ cũng muốn được nối kết với chiều sâu và sức mạnh đó, và họ nhận ra chính lời cầu nguyện là con đường, và là con đường duy nhất cho họ.  Rồi họ xin Chúa Giêsu dạy họ cách để cầu nguyện.  Ngài đã dạy họ điều gì?  Làm sao để chúng ta có thể cầu nguyện theo cách xây dựng nền tảng của chúng ta trên một sự gì đó thật sự vượt ngoài những ái kỷ cá nhân và tập thể?

Một cách ẩn dụ, chúng ta có thể thấy được con đường đó qua đoạn Kinh Thánh ghi lại cái chết tử đạo của thánh Stephano như sau:

Một đám đông những con người, dù lầm lạc nhưng rất thật tâm, được thúc đẩy bởi lòng mộ đạo, nhưng lại bị ảnh hưởng bởi kích động đám đông, đã cùng nhau ném đá Stephano đến chết.  Đây là đoạn Kinh Thánh mô tả việc này: “Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Stephano.  Được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa.  Ông nói: ‘Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.’ Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá.” (Cv 7: 54-58)

Cái chết của Stephano là thật, nhưng mô tả về cái chết của ngài đầy những ẩn dụ cho chúng ta thấy cầu nguyện và không cầu nguyện có ý nghĩa như thế nào.

Vậy không cầu nguyện là như thế nào?  Đám đông, cho dù mộ đạo và thật tâm, nhưng lại không cầu nguyện.  Đoạn Kinh Thánh đã nói rõ: Họ nhìn vào Stephano với ánh mắt hiểu lầm và đầy căm ghét.  Hơn nữa, ngay lúc đó, thông điệp tình yêu của ngài là một sự thật khó chịu nên họ bịt tai không thèm nghe.  Và chính lúc đó họ đang nằm trong gọng kềm của sự kích động đám đông.  Họ không thấy trời đang mở ra, mà chỉ thấy một con người rất bình thường mà họ đang căm ghét,và họ không ở trong tay Thánh Thần mà lại ở trọn trong sự điều khiển của kích động.  Đó là lý do vì sao họ không bao giờ nhìn được xa hơn cái nhìn giận dữ chua cay nhắm vào Stephano.  Trong thời điểm đó, họ chỉ biết có họ, và họ chỉ thấy được những gì thuộc về trần thế này và những điều này là những điều không nằm trong lời cầu nguyện.  Dù chúng ta có mộ đạo đến đâu đi nữa, khi không cầu nguyện, chúng ta sẽ làm như những gì vừa kể trên.  Thật sự, đôi khi, việc cầu nguyện chung dù chân thành nhưng cũng chẳng hơn gì việc dấn sâu vào tính ái kỷ nhóm và bị nô lệ hóa thành một đám đông điên loạn.  Con mắt của chúng ta vẫn chỉ nhìn vào nhau chứ không nhìn về Thiên Chúa.

Trái lại, Stephano có cầu nguyện.  Đoạn Kinh Thánh mô tả ông đang hướng mắt lên trời (một ẩn dụ chứ không phải là mô tả hình tượng) và ông cứ đăm đăm nhìn trời và thấy cửa trời mở ra.  Cái nhìn của ông vượt ngoài đám đông, vượt ngoài thời khắc, vượt ngoài tầm nhìn của con người, vượt ngoài căm ghét, và vượt ngoài nỗi sợ trước cái chết của chính mình.  Ông nhìn vào một cái gì cao vượt hơn đám đông và thời khắc hiện tại.  Chính điều này, và chỉ có điều này, mới là cầu nguyện.

Tôi cùng chia sẻ với Kundera nỗi sợ về cuộc diễu hành khổng lồ và việc tôi cũng như gần hết mọi người khác, sẽ thật quá dễ dàng và mù quáng dấn bước vào đó.  Kundera cảm thấy nghệ thuật có thể giúp chúng ta đặt nền tảng ở một nơi nằm ngoài đám đông điên loạn.  Tôi sẽ thêm vào một sự sẽ còn hữu ích hơn thế nữa, đó chính là cầu nguyện.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ƠN GỌI CUỘC ĐỜI

Chúa thương chọn gọi ai thì Chúa biến đổi người ấy.  Isaia (x. Is 6, 1-2a. 3,8), Phêrô (x. Lc 5,1-11) và Phaolô (1Cr 15,1-11) là ba chứng nhân về điều nói trên.  Cả ba đều thú nhận mình bất xứng, nhưng Thiên Chúa yêu họ và họ đã đáp trả cách quảng đại.  Đúng là tình yêu Chúa biến đổi phận người.

Ơn gọi của Isaia

Trong một thị kiến uy nghi, Isaia được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa và nghe tiếng các Thiên Thần sốt mến luân phiên tung hô: “Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, trời đất đầy vinh quang Chúa” (x. Is 6,2).  Điều đó khiến ông run sợ và cảm thấy mình bất xứng, nên đã thốt lên lời: “Vô phúc cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn” (x. Is 6,3).  Trước sự khiêm tốn ấy, Chúa sai sứ thần đến thanh tẩy ông bằng than lửa hồng, ông trở nên thanh sạch và được Chúa tuyển chọn, ông đã can đảm đáp lại: “Này  con đây, xin hãy sai con” (x. Is 6,8).  Tình yêu Chúa đã biến đổi Isaia thành đại ngôn sứ của Thiên Chúa.

Ơn gọi của Phêrô

Simon Phêrô đang ở trên thuyền đánh cá cùng đồng nghiệp, bỗng Chúa Giêsu bước xuống thuyền của Simon, rồi ngồi trên thuyền mà giảng dạy dân chúng, có Simon ở bên để giữ cho thuyền khỏi tròng trành, còn Chúa Giêsu thì cố gắng giảng dạy đám đông.  Về phương diện thể lý, Simon gần Chúa hơn, ông nghe Chúa rõ lời Chúa và lời Chúa thấm nhập vào ông.  Vừa giảng xong, Chúa Giêsu bảo ông Simon: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá” (Lc 5,4).  Phản ứng của Simon là: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5,8).  Lời Chúa Giêsu đặt ông vào tình thế phải thả lưới bắt cá tiếp, dù kinh nghiệm ngư phủ là không thể.  Phêrô tin vào lời Chúa Giêsu, đức tin được nuôi dưỡng bằng tình Thầy trò, đức tin tái tạo cái mới và tôn vinh khả năng của con người.  Ông tin Chúa, nên bắt được một mẻ đầy cá.

Bảo Phêrô: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu“, là Chúa muốn ông bước ra ngoài sự an toàn, thói quen, chắc chắn, “và thả lưới bắt cá.”  Ðứng trước sự lạ lùng ấy, Simon Phêrô đã không ôm choàng lấy Chúa Giêsu để bầy tỏ lòng biết ơn vì thu lượm được nhiều cá quá sức mong đợi.  Nhưng, theo như thánh sử Luca ghi lại, ông đã quỳ xuống trước mặt Người và thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con đi, bởi vì con là một kẻ tội lỗi(Lc 5,8).  Chúa trấn an: “Ðừng sợ, từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta” (Lc 5,10); ông đã từ bỏ tất cả để đi theo Người.

Chúa Giêsu thật nhân lành!  Phêrô, kẻ chài lưới được Chúa gọi và trở nên nhà hùng biện đáng được ca ngợi nếu ông hiểu được công việc chài lưới người.  Đó là tại sao thánh Phaolô gửi cho các tín hữu tiên khởi và nói: “Hãy coi, hỡi anh em, việc anh em được kêu gọi!  Hẳn không có mấy người khôn ngoan xét theo xác thịt, không mấy người quyền thế, không mấy người tôn quí.  Nhưng chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ.  Những điều thế gian cho là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không không, để hủy ra không những điều có” (1Cr 1,26-28).

Vì nếu Chúa Giêsu chọn người hùng biện trước, người ấy có thể nói, “Tôi đã được chọn vì tài hùng biện của tôi.”  Nếu Chúa chọn một thượng nghị sĩ, thượng nghị sĩ có thể nói, “Tôi được chọn vì cấp bậc của mình.”  Sau cùng, nếu Chúa chọn một hoàng đế, hoàng đế có thể nói, “Tôi được chọn vì khả năng của mình.”

Ơn gọi của Phaolô

Phaolô, khi nhớ lại rằng mình đã từng là một kẻ bách hại Giáo hội, ông thú nhận mình không xứng đáng được gọi làm tông đồ, nhưng ông nhìn nhận rằng, Chúa Giêsu Phục Sinh đã thương ông và đã thực hiện nơi ông những điều kỳ diệu, bất chấp giới hạn con người của ông, Chúa còn trao cho ông nhiệm vụ và vinh dự được loan truyền Tin Mừng (x. 1Cr 15,8-10).  Há chẳng phải lòng thương xót Chúa biến đổi con người ông sao?

Ơn gọi mỗi người chúng ta

Trong cả ba kinh nghiệm kể trên, chứng tỏ con người dù nghèo nàn và bất xứng, giới hạn và tội lỗi, kể cả mỏng giòn.  Nhưng nếu gặp được Thiên Chúa tình yêu, Chúa sẽ biến đổi con người.  Isaia, Phêrô và Phaolô đã làm gương cho tất cả những ai được Chúa gọi thì hãy nhìn vào Chúa và lòng khoan nhân của Người, để thay lòng đổi dạ và hân hoan từ bỏ tất cả mọi sự vì Người.

Từ ơn gọi của các tiên tri, đến ơn gọi của các Tông đồ và cuối cùng là ơn gọi của mỗi người chúng ta.  Câu chuyện ơn gọi của ngôn sứ Isaia, Phaolô, Phêrô là mẫu số chung cho ơn gọi của mỗi người.  Ngày chúng ta được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta được Chúa chọn để trở thành Kitô hữu, sứ giả loan báo Tin mừng.  Đôi lúc chúng ta nghĩ rằng mình không xứng đáng.  Nhưng Chúa chọn gọi ai là Người biến đổi như đã biến đổi tiên tri Isaia, Phaolô, Phêrô, dù chúng ta bất xứng.  Thánh Irênê nói: ai nhận thức được bản chất tội lỗi của mình, thì người ấy có khả năng nhận biết tình trạng tạo vật của mình nữa.  Chỉ có những người như Phêrô, mới chấp nhận những giới hạn của chính mình và nhận những thành quả tông đồ của mình.  Chúa đã kêu gọi các Tông Đồ để trở thành kẻ lưới người, nhưng ngư dân đích thực là chính Chúa: trò giỏi không chỉ giỏi chài, mà còn bắt cá người giỏi.  Điều này chỉ có hậu nếu chúng ta liều bỏ tất cả để theo Chúa.  Mong sao, mỗi người chúng ta ý thức được trách nhiệm, bổn phận cao quý của mình là trở nên sứ giả Tin Mừng của Thiên Chúa giữa đời hôm nay.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ gợi lên nơi mỗi người chúng con lòng ước muốn thưa “Xin Vâng” với Chúa trong vui sướng hân hoan.  Amen!

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CON RẮN – BIỂU TƯỢNG THIỆN HAY ÁC?

Theo Âm lịch, năm 2025 là năm con Rắn.  Dù yêu hay ghét, những chú rắn đang trở thành tâm điểm chú ý trong năm nay.  Hơn nữa, 2025 cũng là Năm Thánh Hy Vọng.

Đối với người Trung Hoa, rắn biểu trưng cho trí tuệ, sự biến đổi, bình thản, quyến rũ, suy tư, sáng tạo và trường thọ.  Tuy nhiên, với hầu hết mọi người, rắn mang ý nghĩa tiêu cực, như trong trò chơi cờ “Rắn và Thang” (Snakes and Ladders) đơn giản và phổ biến, nơi người chơi trượt xuống qua những chiếc thân trơn trượt của rắn nhưng lại leo lên bằng những chiếc thang.

Đa số mọi người thường có nỗi sợ đối với loài vật nhầy nhụa và nguy hiểm như rắn.  Nghiên cứu cho thấy gần một nửa dân số thế giới cảm thấy lo lắng khi gặp rắn.

Tuy vậy, rắn đóng vai trò hữu ích trong hệ sinh thái, như giúp kiểm soát số lượng loài gặm nhấm.  Suy cho cùng, rắn cũng là một phần của tạo vật Chúa dựng nên, và mọi tạo vật đều tốt đẹp.

Vậy, rắn là tốt hay xấu?  Điều này phụ thuộc vào cách nhìn nhận.  Theo Nguyên Lý và Nền Tảng Thứ Nhất của Thánh I-nhã, mọi tạo vật (bao gồm cả rắn) đều được tạo nên để ca ngợi, tôn kính, và phụng sự Thiên Chúa.

Đối với các Kitô hữu Trung Hoa, việc cân bằng giữa quan niệm đức tin và các lễ hội truyền thống Trung Hoa đôi khi rất tinh tế, nhất là khi hai yếu tố này dường như xung đột.  Năm con Rắn này là một ví dụ.  Hãy cùng khám phá quan điểm Kinh Thánh Do Thái-Kitô giáo liên quan đến rắn, để hiểu rõ hơn về loài bò sát máu lạnh này, cũng như về ý nghĩa hoặc vai trò của nó.

Rắn trong Kinh Thánh: Từ Sáng Thế Ký

Lần đầu tiên rắn được nhắc đến trong Kinh Thánh là trong Sáng Thế Ký 3.  Có sự khác biệt nào giữa từ “rắn” (snake) và “con rắn” (serpent) trong tiếng Anh không?  Hai từ này thường được sử dụng thay thế cho nhau.  “Snake” là từ gốc tiếng Anh cổ trước cuộc xâm lược Norman năm 1066, trong khi “serpent” xuất hiện trong tiếng Anh từ tiếng Pháp vào những năm 1300.  “Snake” mang tính kỹ thuật và thường được sử dụng trong bối cảnh lịch sử tự nhiên, còn “serpent” mang tính thơ ca hơn.

Trong Sáng Thế Ký 3, con rắn được miêu tả là loài khôn ngoan hơn mọi dã thú khác.  Sự tinh ranh của nó đã khiến Ê-va bị cám dỗ với lời nói dối rằng ăn trái cấm là điều tốt.  Con rắn được xem là kẻ kiến tạo nên sự sa ngã của A-đam và Ê-va.  Hậu quả là Thiên Chúa trừng phạt con rắn, buộc nó phải bò sát đất và ăn bụi.  Không chỉ vậy, sẽ có sự thù hận giữa con rắn và người phụ nữ, giữa con cháu của chúng.  Con rắn sẽ cắn gót chân con người, còn con người sẽ đập nát đầu nó.

Thánh Phaolô giải thích rằng Ê-va bị lừa dối bởi sự xảo quyệt của con rắn (2 Cor 11:3), chứ không phải vì con rắn vốn xấu xa.  Trong câu chuyện vườn Eden, rắn đại diện cho cám dỗ hơn là hiện thân của sự dữ.  Rắn vẫn là một trong những loài vật mà Chúa tạo dựng, và A-đam đã đặt tên cho nó.  Trong mối liên hệ với sự xảo quyệt, Thánh Vịnh cũng miêu tả tiêu cực về rắn, “Chúng mài lưỡi nhọn như lưỡi rắn, chứa đầy mồm nọc độc hổ mang. ” (Tv 140:3).

Những khía cạnh tích cực về rắn trong Kinh Thánh

Tuy nhiên, Kinh Thánh cũng có những ví dụ tích cực về rắn.  Khi Môsê nghi ngờ lời mời gọi của Thiên Chúa để giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, Chúa đã biến cây gậy của ông thành con rắn.  Môsê sợ hãi chạy đi, nhưng Chúa yêu cầu ông nắm lấy đuôi nó, và nó trở lại thành cây gậy (Xh 4:1-5).  Khi Môsê và A-ha-ron đối mặt với Pha-ra-ô, Chúa bảo A-ha-ron ném cây gậy xuống, và nó biến thành con rắn.  Các pháp sư Ai Cập cũng làm tương tự, nhưng cây gậy của A-ha-ron (rắn) nuốt chửng những cây gậy (rắn) khác (Xh 7:8-12).

Vì sao Chúa lại biến cây gậy của Môsê thành con rắn?  Ngài hoàn toàn có thể biến cây gậy đó thành bất cứ thứ gì.  Môsê luôn mang theo cây gậy bên mình, vì vào thời đó, gậy là công cụ quen thuộc của người chăn chiên, dùng để chăn dắt và bảo vệ.  Môsê cũng đã sử dụng cây gậy này để rẽ nước Biển Đỏ và khiến nước chảy ra từ tảng đá.  Điều này cho chúng ta thấy rằng quyền năng không nằm trong cây gậy, mà nằm ở sức mạnh của Thiên Chúa được thực hiện qua đôi tay của Môsê.

Hơn nữa, khi Môsê và A-ha-ron thực hiện phép lạ biến gậy thành rắn, hành động này trực tiếp thách thức quyền lực của Pha-ra-ô, bởi vì rắn giữ vai trò nổi bật trong tôn giáo và thần thoại Ai Cập.  Hơn thế, con rắn của A-ha-ron đã nuốt chửng những con rắn khác do các pháp sư tạo ra.  Điều này bày tỏ quyền năng của Thiên Chúa của dân Do Thái vượt trội hơn các thần linh của họ, cũng như quyền lực của Pha-ra-ô và vương quốc của ông.  Vì vậy, rắn được sử dụng để phục vụ kế hoạch của Thiên Chúa, như một phương tiện để đạt đến mục đích.

Trong phần hai, chúng ta sẽ đi sâu hơn vào các trình thuật Kinh Thánh này, khám phá cách loài rắn được sử dụng để chuyển tải những bài học sâu sắc và làm sáng tỏ kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Tác giả: Fr Francis Lim, S.J.
Dịch giả: Francis Hoang, S.J.
Nguồn: jcapsj.org – dongten.net

PHÂN ĐỊNH TRONG ĐỜI THƯỜNG – PHẦN CUỐI

MAGIS: HƠN NỮA!

Trước khi chọn lựa, ta phải đặt Thiên Chúa lên trên hết và trước hết.  Mọi thụ tạo phải được đặt dưới Ngài và đặt sau Ngài.  Đức Giêsu, Thiên Chúa Con làm người, cũng đã đòi các môn đệ phải đặt Ngài lên trên mọi thứ của cải trần gian và mọi liên hệ máu mủ ruột thịt: “Nếu ai đến với tôi mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14, 26).  Ngài còn nói: “Ai trong anh em không từ bỏ tất cả những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14, 33).  Như thế chọn làm môn đệ Giêsu đòi ta phải đặt Ngài lên trên những giá trị được người đời coi trọng.  Khi dặn các môn đệ đừng lo về đời sống vật chất như chuyện ăn mặc, Đức Giêsu khuyên họ: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn mọi sự khác, Người sẽ thêm cho” (Mt 6, 33).  Vậy tìm kiếm Nước Thiên Chúa hay tìm chính Thiên Chúa là ưu tiên một, vượt trên mọi ưu tiên khác.

Một chọn lựa được coi là nghiêm túc khi nó hoàn toàn quy hướng về vinh quang Thiên Chúa.  Đừng sợ con người sẽ bị chèn ép hay bị tha hóa nếu nó chỉ nhắm đến vinh quang Thiên Chúa.  Vinh quang Thiên Chúa chẳng bao giờ đè bẹp con người.  Trái lại, như Đức Giêsu nói: “điều làm Chúa Cha được vinh quang là anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” (Ga 15, 8).  Thánh Irênê viết một câu bất hủ: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống và sự sống của con người là được nhìn thấy Thiên Chúa” (Gloria enim Dei homo vivens, vita autem hominis visio Dei).  Chẳng có gì mâu thuẫn giữa vinh quang Thiên Chúa và sự triển nở của con người.  Hoa hướng dương tỏa sáng khi quay về mặt trời.

Khi phải phân định để chọn lựa, chúng ta có thể có trước mặt nhiều giải pháp tốt.  Giải pháp tốt hơn là giải pháp dẫn đưa chúng ta đến với mục đích của đời mình HƠN (Linh Thao 23) và vinh danh Thiên Chúa HƠN.  Chính tình yêu mãnh liệt đối với Thiên Chúa khiến chúng ta không bằng lòng với việc chọn những điều “thường thường bậc trung.”  “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi với tất cả trái tim ngươi” (x. Đnl 6, 4).  Khi yêu với tất cả trái tim, người ta không bao giờ coi là đủ.  Chữ HƠN đưa ta đi vào một chuyển động tìm kiếm và nhận định để khám phá ra điều Chúa muốn tôi làm Ở ĐÂY VÀ BÂY GIỜ.  Điều hôm qua là HƠN, thì hôm nay có thể phải điều chỉnh lại.  Phải tìm ra cái HƠN cho hôm nay, cho giây phút này.  Phải làm sao để việc phục vụ của tôi đến với nhiều người hơn, hay đến với những người đang có nhu cầu cấp bách hơn.  Một linh mục được ơn giảng thuyết, có thể đưa bài giảng của mình lên trang web thay vì chỉ dành cho một nhóm người nghe trong Thánh Lễ.  Cha Mateo Ricci, SJ, khi đến Trung-hoa (1583) đã cạo đầu và ăn mặc như một vị sư Phật giáo để được phép ở lại đó.  Nhưng sau khi thông thạo tiếng Quan thoại và văn hóa Trung-hoa, ngài phân định và thấy để truyền giáo tốt hơn thì nên ăn mặc như một văn nhân (literati) của Khổng giáo.  Từ đó (1595) ngài để râu tóc trở lại, mặc áo lụa, và đầu đội một cái mũ sang trọng như mũ giám mục!

Thánh Phanxicô Xavier là người đã sống tinh thần của chữ HƠN.  Ngài đã bỏ quê hương Tây-ban-nha để đi truyền giáo ở Ấn-độ (năm 1541).  Nhưng không chỉ ngừng lại thành phố Goa, ngài còn đi qua các đảo thuộc Mã-lai bây giờ.  Ở Mã-lai, ngài gặp một người Nhật, rửa tội cho anh, và bị lôi cuốn bởi lời giới thiệu của anh về một nước Nhật đẹp đẽ văn minh.  Thế là ngài lên đường đi truyền giáo ở Nhật và khá thành công.  Nhưng lòng của ngài không dừng lại đó.  Khi biết người Nhật rất nể phục sự khôn ngoan của người Trung-hoa, ngài thấy muốn truyền giáo cho người Nhật có kết quả hơn thì phải truyền giáo cho người Trung-hoa trước.  Thế là ngài nuôi mộng vào đất Trung-hoa, dù hoàng đế Trung-hoa thời ấy ra lệnh bắt giết những ai vào nước truyền đạo.  Phanxicô Xavier đã chết vì kiệt sức trên đảo Thượng Xuyên cách Trung-hoa 14 km (năm 1552).  Mắt ngài vẫn hướng về đất Trung-hoa, lòng ngài vẫn muốn làm điều HƠN.

PHẢI LÀM GÌ ĐỂ PHÂN ĐỊNH VÀ CHỌN ĐÚNG Ý CHÚA

Một người sạch tội trọng, có tương quan thân thiết với Thiên Chúa, người ấy sẽ sáng suốt hơn và dễ tìm thấy ý Chúa hơn.  “Phúc cho ai có trái tim trong sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8), ta có thể thêm, thấy ý của Thiên Chúa.

Một người có tinh thần bình tâm, siêu thoát trước những thụ tạo, không bị những thèm muốn lệch lạc lôi kéo, người ấy dễ gặp thấy ý Chúa hơn.

Một người có lòng yêu mến Chúa và tha nhân, không coi mình là trung tâm, nhưng luôn tìm kiếm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa, người ấy sẽ dễ tìm ra ý Chúa hơn.  Thánh vịnh nói rõ:

Phàm ai kính sợ Chúa
Người chỉ cho thấy đường phải chọn (Tv 24, 12).

Sau đây là 5 bước cho một cuộc phân định bình thường.

Trước khi lựa chọn, cần nắm vững mục đích của đời mình, đó là ngợi khen Thiên Chúa và cứu rỗi linh hồn mình.  Cần có thái độ bình tâm, nghĩa là không để mình bị chi phối bởi tình cảm thích hay không thích điều này điều nọ, “giữ mình ở giữa như cái kim của bàn cân, để nghiêng theo điều tôi cảm thấy làm vinh danh, ngợi khen Chúa và cứu rỗi linh hồn tôi hơn” (Linh Thao 179).

Kế đến phải cầu nguyện, nghĩa là tha thiết xin Chúa tỏ cho biết Ngài muốn mình làm gì trong hoàn cảnh hiện tại.  Xin Ngài đánh động tâm hồn và soi sáng trí khôn để mình nhận ra.

Suy xét những cái lợi và hại của từng giải pháp chọn lựa.  Đây không phải là lợi hay hại về mặt vật chất, nhưng là xem nó lợi hay hại cho mục đích tối quan trọng của đời mình, đó là tôn vinh Thiên Chúa và cứu rỗi linh hồn mình.

Sau khi suy xét, hãy xem lý trí nghiêng về phía nào hơn, từ đó mới đưa ra quyết định chọn lựa.

Chọn lựa xong thì đi cầu nguyện, dâng lên Chúa chọn lựa của mình, để xin Ngài vui nhận và xác chuẩn chọn lựa đó nếu nó thực sự tôn vinh Ngài hơn.

Cũng có 3 cách để phân định và chọn lựa dựa trên trí tưởng tượng, khi tôi đặt mình trong những tình huống đặc biệt.  Chính những tình huống này khiến tôi chọn lựa nghiêm túc hơn.

a.  Tôi tưởng tượng tôi gặp một người ở trong hoàn cảnh y hệt như tôi, và đang tìm ý Chúa, tôi sẽ khuyên người ấy chọn giải pháp nào?

b.  Tôi tưởng tượng mình đang trong giờ nguy tử, tôi sẽ chọn giải pháp nào?

c.  Tôi tưởng tượng mình đang ở trong ngày phán xét, tôi sẽ chọn giải pháp nào?

Một bạn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm thì nên tham vấn một vị linh hướng khôn ngoan khi phải làm một chọn lựa quan trọng.  Kết hôn với một người được coi là lựa chọn quan trọng, vì không thể đổi được nữa.  Cần khôn ngoan để nhận ra cái bẫy khéo léo của ma quỷ đội lốt thiên thần (2 Cr 11, 14; Cn 14, 12).   Thánh Inhaxiô khi còn là sinh viên ở Barcelona đã có kinh nghiệm này.  Đó là cứ khi bắt đầu học thuộc lòng các bài văn phạm thì ngài lại thấy trong đầu xuất hiện những tư tưởng mới mẻ về những chuyện thiêng liêng khiến ngài mê mẩn không sao học thuộc được.  Ngài đã cố tống chúng đi, nhưng vô ích.  Lấy làm lạ trước hiện tượng này, – vì ngay cả khi cầu nguyện hay dự thánh lễ, ngài cũng chẳng bao giờ sốt sắng đến thế, – Inhaxiô dần dần nhận ra đây là một cơn cám dỗ tinh vi.  Ngài đã đi gặp giáo sư để xưng thú mọi chuyện và hứa từ nay sẽ học tử tế (Tự thuật 55).

Khi ta chọn lựa đúng ý Chúa thì thường cảm thấy hạnh phúc và bình an, dù vẫn phải chịu nhiều hy sinh, đau khổ.  Làm ngược ý Chúa sẽ đem lại nỗi buồn phiền mà anh thanh niên giàu có cảm nghiệm khi anh từ chối lời mời của Chúa (Mt 19, 20-22).  Một mặt, anh thanh niên muốn có sự sống đời đời, mặt khác anh lại không đủ can đảm để rũ bỏ tài sản đời này.  Lòng gắn bó với của cải khiến anh không đáp lại được lời mời của Thầy Giêsu: “Hãy đi bán tài sản của anh cho người nghèo… rồi hãy đến theo tôi.”  Anh đã bỏ đi, buồn rầu, nhưng có khi nào anh muốn trở lại với Thầy Giêsu không?

Phân định để tìm ý Chúa là việc làm hàng ngày và kéo dài suốt đời.  Từ từ, ta sẽ nhạy bén để nhận ra ý Chúa xuyên qua những biến cố nhỏ mọn.  Nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận có những khoảng thời gian dài chúng ta lần mò trong bóng tối.  Lời nguyện sau của Chân phước John Henry Newman là một nâng đỡ cho ta trong lúc khó khăn đó.

Lạy Chúa là Ánh sáng thân thương,
giữa những bủa vây của u sầu ảm đạm, xin Chúa dẫn con đi.
Đêm thì tối, đường còn xa, xin giữ bước chân con.
Con đâu dám xin thấy tương lai xa xôi,
Chỉ thấy một bước trước mặt cũng đủ rồi.
Chưa bao giờ con như bây giờ,
Cũng chưa bao giờ con xin Chúa dẫn dắt.
Con đã quen tự chọn và thấy con đường của mình.
Nhưng giờ đây, xin Chúa dẫn con đi.

Nguyễn Cao Siêu, S.J
Nguồn: https://dongten.net

ĐƯỢC KÊU GỌI TRỞ NÊN NHỮNG VÌ SAO

“Chúng ta được kêu gọi trở nên những vì sao chiếu sáng trong cõi trần u ám này.”

Có người đã mô tả các tiên tri trong Kinh Thánh như những người an ủi những ai phiền não, và cũng là người gây phiền não cho những ai giầu sang, tự mãn.  Chẳng hạn như tiên tri Giêrêmia.  Vị tiên tri này sống vào thời kỳ Isael đang bị băng họai từ bên trong.  Và bị quân đội ngoại bang hùng mạnh đe dọa từ bên ngoài.  Tình hình như thế làm cho Giêrêmia hết sức đau xót vì Ngài yêu mến tổ quốc và đồng bào mình.  Có lẽ vì thế mà Chúa đã kêu gọi Giêrêmia làm ngôn sứ cho bạn hữu và láng giềng của ông.

Nhưng lần nào được Chúa kêu gọi, Giêrêmia cũng đáp lại một cách hết sức miễn cưỡng, vì ông biết rằng làm tiên tri nơi quê hương mình rất là khó khăn.  Nhưng rồi Giêrêmia cũng phải thuyết giảng, ông tuyên bố thẳng thắn với dân chúng con đường sống còn duy nhất của họ là phải canh tân đời sống hướng về Chúa và kêu cầu Ngài cứu giúp.

Nghe ông giảng thuyết như thế, đám dân liền nổi giận.  Họ lầm bầm kêu: “Ông nội Giêrêmia này dám nghĩ mình là ai mà bày đặt phê phán chúng ta, vì dầu sao chúng ta cũng là đồng bào của ông ấy?”  Tình trạng căm ghét này càng dâng cao đến nỗi có lần nhà cầm quyền đã công khai đánh đòn ông, lần khác thì cột ông vào trong bao, lần khác nữa thì xô ông vào một đống phân.

Chúa Giêsu cũng đã cảm nghiệm được những khó khăn và đau đớn ấy khi lãnh nhận sứ mệnh làm tiên tri ngay trong xứ sở của Ngài.  Ngài đã từng bị bạn bè láng giềng ruồng rẫy.  Chẳng hạn bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy những gì đã xảy ra khi Chúa Giêsu lần đầu thuyết giảng nơi quê nhà Ngài, sau khi lãnh nhận phép rửa từ sông Giodan trở về.  Khi Chúa đứng lên tuyên bố với bạn bè và láng giềng rằng: “Thần Khí Chúa ngự xuống trên Ngài và chính Ngài làm ứng nghiệm lời Thánh Kinh,” thì lập tức họ cảm thấy khó chịu ngay.  Khắp hội đường đều nghi hoặc và dân chúng xầm xì bàn tán với nhau: “Anh ta không phải là con ông Giuse sao?  Anh ta nghĩ mình là ai mà dám tự nhận mình là tiên tri?  Đâu là bằng chứng cho thấy anh ta là Đấng Thiên Sai chứ không phải là tên mạo nhận?”  Lời xầm xì càng lúc càng lớn và chẳng bao lâu đám dân chúng bắt đầu la lên.  Rồi tình hình đột nhiên không thể kiềm chế được nữa.  Thánh Luca kể lại trong Phúc Âm như sau: “Dân chúng đứng dậy kéo Chúa Giêsu ra khỏi thành và dẫn Ngài lên đỉnh đồi trong thành phố dự tính xô Ngài lộn đầu xuống dưới.  Nhưng Ngài bước qua giữa họ và bỏ đi chỗ khác” (Lc 4: 29-30).

Bài mô tả của thánh Luca về khó khăn đầu tiên Chúa Giêsu gặp phải tại Nagiarét khiến cho người Kitô hữu đang hăng hái phấn khởi bỗng như bị “té cái bịch” xuống đất.  Nhưng sau khi suy niệm về Kinh nghiệm chua chát đó, chúng ta bỗng nhớ lại những lời phiền não cụ già Simeon đã thốt ra khi Chúa Giêsu được dâng vào đền thánh “Trẻ này… là một dấu chỉ cho người ta chống đối” (Lc 2:34).  Lời nói này sẽ còn vang đi vọng lại suốt thời kỳ giảng thuyết của Chúa Giêsu.  Nếu dân làng Nagiaret từng đòi Chúa Giêsu trưng ra bằng cớ xác minh Ngài là tiên tri thế nào, thì các nhà lãnh đạo tôn giáo Irsael cũng buộc Ngài chứng minh giáo lý của Ngài là chính thống y như vậy (Mc 2: 18).  Nếu dân làng Nagiaret từng tố cáo Chúa Giêsu là kẻ dối trá, là kẻ lộng ngôn phạm thượng thế nào thì bọn biệt phái cũng thẳng thừng buộc tội Ngài là khí cụ của chính ma quỉ y thế ấy (Mt 12:24).  Và nếu dân làng Nagiaret từng cố tìm cách giết Chúa Giêsu vì lời tuyên bố của Ngài như thế nào, thì đám dân thành Giêrusalem cũng hò hét khản cổ: “Đóng đinh nó đi!  Đóng đinh nó đi!” y hệt như vậy.  Thực sự mà nói, Chúa Giêsu quả là một kẻ bị nhiều người chống đối và khích bác.  Lời tiên báo của cụ già Simeon về con trẻ Giêsu sẽ theo sát Đức Giêsu trong suốt cuộc đời dương thế Ngài.

Làm sao áp dụng những điều nói trên vào cuộc sống của chúng ta?  Chính Chúa Giêsu đã từng nêu gương cho chúng ta trước.  Ngài từng bảo các môn đệ: “Nếu thế gian ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Ta trước… Đầy tớ không lớn hơn chủ mình.  Nếu họ đã bắt bớ Ta thì họ cũng sẽ bắt bớ các con” (Ga 15:18-20).  Bất cứ ai cố gắng sống đúng là Kitô hữu sẽ hiểu được những lời nói trên chân thực thế nào.  Chúng ta thử xét trường hợp những thanh niên đang học trung học hay đại học.  Cách đây không lâu, trong đám thanh niên có một số cảm nhận được những điều Chúa Giêsu đang đề cập đến.  Chúng ta hãy hỏi họ xem điều gì đã xảy đến cho họ khi họ cố gắng thật thà trong cuộc thi đang khi bạn bè xung quanh gian lận?  Điều gì đã xảy đến cho họ khi họ cố gắng giữ mình đúng đắn trong một buổi tiệc vui, đang khi chung quanh họ lũ bạn đang “quậy” tứ tung?  Điều gì đã xảy ra cho họ khi họ lên tiếng chống lại việc phá thai trong khi những người xung quanh họ lên tiếng ủng hộ việc ấy?  Điều gì đã xảy ra cho họ khi họ tuyên bố chống nạn kỳ thị chủng tộc, đang khi quanh họ người ta đang tìm cách tiêu diệt cá tính của những dân tộc thiểu sổ?  Điều gì đã xảy ra cho những thanh niên này thì cũng xảy ra tương tự cho những người lớn tuổi hơn.  Quả thế, nhiều lúc chúng ta đã từng bị ruồng bỏ và bắt bớ vì niềm tin của chúng ta.

Tuy nhiên chúng ta không nên vì thế mà từ bỏ lối sống lương thiện và trong sạch.  Không nên vì thế mà từ chối không dám bảo vệ quyền lợi trẻ em và nhóm người thiểu số.  Lý do thật rõ ràng là vì Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ trong bài giảng trên núi: “Các con là muối đất…  Các con là ánh sáng thế gian…  Người ta không đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng nhưng đặt nó trên giá đèn…  Cũng thế, ánh sáng của các con phải toả sáng trước mọi người để họ trông thấy việc thiện các con làm và ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5:13-15).

Chúng ta là Kitô hữu được kêu gọi làm tiên tri của Chúa Cha cho thời đại chúng ta, cũng như Chúa Giêsu từng là tiên tri của Chúa Cha cho thời đại của Ngài.  Đây chính là sứ vụ mà chúng ta lãnh nhận khi chịu phép rửa tội và thêm sức.  Chúng ta hãy lập lại lời thánh Phaolô; “Người Kitô hữu chúng ta được Chúa kêu gọi để toả sáng như các vì sao giữa lòng thế giới tăm tối này” (Pl 2:15).

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện nói lên cảm nghĩ của bất cứ ai đã từng cố gắng trung thành bước theo Chúa Giêsu.

Lạy Chúa xin ban cho chúng con tình yêu của Chúa, vì đôi khi chúng con bị cám dỗ căm thù đám người ruồng rẫy chúng con.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sức mạnh của Chúa.  Vì đôi khi chúng con như muốn ngã lòng trước những cảnh ngộ gai góc.

Lạy Chúa xin ban cho chúng con lòng dũng cảm vì đôi khi chúng con như muốn đầu hàng trước những gánh nặng đè lên chúng con.

Xin giúp chúng con là muối ướp mọi người, là đèn soi thế giới.  Xin hãy giúp chúng con toả sáng như những vì sao trong thế giới tăm tối này. Amen“.

Lm. Mark Link, SJ

PHÂN ĐỊNH TRONG ĐỜI THƯỜNG – PHẦN 3

BÌNH TÂM TRƯỚC MỌI THỤ TẠO LÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÂN ĐỊNH

Trong sách Linh Thao, thánh Inhaxiô nói đến mục đích của đời người: “Con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình” (LT 23).  Thánh nhân coi đây là Nền Tảng chi phối mọi chọn lựa.  Mọi chọn lựa của tôi đều phải hướng đến mục đích này, nghĩa là hướng đến việc tôn vinh Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên tôi và tiếp tục cho tôi sống trên đời.  Tôi không được quên thân phận thụ tạo của mình trước Đấng Tạo Hóa.

Hơn nữa, Thiên Chúa còn muốn tôi được cứu rỗi, nghĩa là được sống mãi mãi bên Ngài ở đời sau.  Cuộc đời tôi đâu chỉ kéo dài một số năm tháng ở đời này, nhưng sau cái chết, nó kéo dài đến vĩnh cửu.  Trần gian này dù có giá trị cao quý, nhưng nó vẫn chỉ là nơi tôi dựng lều tạm trú.  Hạnh phúc và nước mắt ở đời này chưa phải là tuyệt đối, chưa phải là chung cục.  Tôi cần tìm một thứ hạnh phúc vững bền, trọn vẹn.  Chính vì thế mỗi chọn lựa của tôi ở đời này phải được cân nhắc đắn đo, bởi lẽ tôi dễ bị cám dỗ bởi những vẻ đẹp gần bên của cái vô thường mà hững hờ với hạnh phúc tuyệt vời nơi thế giới của Thiên Chúa.

Trước khi phân định và chọn lựa, tôi phải biết tôi từ đâu đến và tôi sẽ đi đâu.  Tôi là thụ tạo đến từ Thiên Chúa và tôi đang trên đường về với thế giới vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Để giúp tôi đạt được mục đích trên của đời người, Thiên Chúa còn ban cho tôi những thụ tạo tốt đẹp khác.  Chúng cũng là thụ tạo như tôi, và Chúa cho tôi có quyền sử dụng chúng để tôn vinh Chúa.  Sử dụng là thế này: nếu chúng giúp tôi nhiều, tôi sẽ dùng nhiều; nếu chúng cản trở tôi, tôi phải loại bỏ.  Tôi không được đặt thụ tạo lên trên Thiên Chúa, là Đấng tác sinh mọi loài thụ tạo.  Vì mọi thụ tạo chỉ là phương thế để giúp tôi phụng sự Thiên Chúa, nên tôi cần có thái độ siêu thoát và tự do đối với chúng.  Thái độ siêu thoát được thánh Inhaxiô gọi là bình tâm (indifference).  Bình tâm ở đây không có nghĩa là bình tĩnh, hay giữ cái đầu lạnh như từ điển quen hiểu.  Bình tâm là tạm thời không nghiêng về một thụ tạo nào, để rồi sau khi đã tìm kiếm và tìm thấy ý Chúa, thì nghiêng về điều Chúa muốn.

Ở thành phố Pisa nước Ý, có một tháp chuông khá đẹp, nhưng lại nghiêng ngay từ lúc mới xây.  Tháp này đã nghiêng 4 độ, và càng lúc càng nghiêng hơn nên có nguy cơ sụp đổ.  Các kỹ sư đã phải suy nghĩ nhiều để tìm ra cách giữ cho nó đừng nghiêng thêm.  Giải pháp đưa ra là di dời các chuông của tháp cho nhẹ bớt, và rút bớt đất dưới một phần nền của tháp để tạo lại sự cân bằng.  Tháp nghiêng Pisa có thể là một hình ảnh tượng trưng cho mỗi người chúng ta.  Chúng ta thường ở tư thế nghiêng, và càng lúc càng nghiêng hơn.  Trước khi quyết định một điều gì, ta thường thấy mình đã nghiêng về một giải pháp rồi.  Trước khi suy nghĩ chọn lựa, ta đã thấy mình đã chọn xong rồi.  Có khi phân định hay tìm ý Chúa chỉ là hợp lý hóa điều mình đã chọn.  Làm cho tháp Pisa đừng nghiêng là chuyện khiến các kỹ sư đau đầu, nhưng làm cho chúng ta đừng nghiêng để hoàn toàn tự do chọn điều Chúa muốn, điều đó khó hơn nhiều.

Phải công nhận là có nhiều thụ tạo làm chúng ta nghiêng.  Người ta nói sức khỏe là tài sản vô giá.  Ai cũng sợ bị đau bịnh, ai cũng muốn mình khỏe mạnh từ đầu đến chân.  Ngoài sống khỏe, người ta còn muốn sống lâu.  Tuổi thọ được coi là một hồng phúc trời ban, nhất là vào thời mà người ta chưa tin có sự sống lại của thân xác.  Sống lâu, vui hưởng tuổi già bên đàn con cháu: đó là ước mơ của nhiều bậc lão thành.  Ngoài sống khỏe và sống lâu thì giàu sang, tiền bạc, của cải là những thứ khiến nhiều người mê đắm, đến nỗi đánh mất cả nhân phẩm của mình và xúc phạm đến nhân phẩm người khác.  Đức Giêsu có lý khi nói: Không ai có thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được (Mt 6, 24).  Tiền Của là điều con người thường muốn làm tôi cho nó, vì có nó thì mới làm chủ những thứ khác được.  Khi có tiền, con người lại muốn có danh dự, danh tiếng, danh giá, danh vọng…  Sống như người vô danh là điều hầu như chẳng ai muốn.  Hơn nữa, đối với một số dân tộc phương Đông, chịu ô nhục là điều không thể chấp nhận được và phải tránh bằng mọi giá, kể cả giá máu.

Bạn trẻ hôm nay nghiêng về thụ tạo nào?  Họ có mê tiền, mê tiếng không?  Họ có quan tâm đến số likes, số followers của mình trên mạng xã hội không?  Họ có mong làm giàu bằng cách khởi nghiệp không?  Họ có bị thu hút bởi những thần tượng thể thao hay showbiz không?  Bạn trẻ hôm nay có thể bị nghiêng ngả bởi ma túy và ăn chơi trụy lạc, bởi những thứ khoái lạc mới mẻ và hấp dẫn mà chỉ thời nay mới có.  Khi bị nghiêng như vậy, tôi khó lòng phân định xem đâu là con đường Chúa muốn mình đi.  “Tôi chọn Giêsu là nắng, tôi chọn Giêsu là mưa…” là một câu dễ hát nhưng không dễ sống.  Câu hỏi bây giờ là: làm sao để tôi không nghiêng nữa, nhưng đứng thẳng lên được.  Nhờ thế tôi mới có thể chọn Giêsu.

Câu chuyện của người phụ nữ còng lưng trong Phúc âm Luca nói với chúng ta về cách bà đứng thẳng lên được dù lưng đã còng 18 năm.  Trước hết là sự bất lực hoàn toàn của bà: “lưng bà còng hẳn xuống và bà không thể nào đứng thẳng lên được” (Lc 13, 11), dù rất muốn.  Đức Giêsu chỉ nói một câu: “Bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền,” và làm một cử chỉ: “Ngài đặt tay trên bà, lập tức bà đứng thẳng lên được” (Lc 13, 12-13).  Chúng ta ít nhiều đều ở tư thế còng lưng, mặt cúi xuống đất, chỉ nhìn thấy một miếng đất nho nhỏ trước mặt, khó ngửa mặt nhìn trời.  Chúng ta ít nhiều bị trói buộc, buộc bằng dây hay bằng xiềng xích (x. Lc 13, 15-16).  Chúng ta không tự cởi trói được, không tự giải thoát cho mình được, không tự đứng thẳng được.  Đức Giêsu chữa cho người phụ nữ còng lưng dù bà không yêu cầu.  Ngài chính là Đấng làm chúng ta được đứng thẳng như một người thật sự tự do.  Tư thế đứng thẳng tượng trưng cho thái độ bình tâm, siêu thoát, không nghiêng về thụ tạo nào.

(Còn tiếp)

Nguyễn Cao Siêu, S.J.
Nguồn: https://dongten.net

PHÂN ĐỊNH TRONG ĐỜI THƯỜNG – PHẦN 2

TẠI SAO PHẢI PHÂN ĐỊNH ĐỂ TÌM Ý CHÚA?

Làm sao để tìm được chọn lựa tốt nhất là ước mong của mọi người.  Để làm điều đó cần biết phân định (discern, discernment).  Đức Thánh Cha Phanxicô đã muốn đưa thái độ phân định vào lối hành xử của mọi Kitô hữu.  Người trẻ cũng cần tập phân định.  Không phải chỉ phân định trước những chọn lựa lớn như chọn bậc sống (đi tu hay lập gia đình) hay chọn người bạn trăm năm, mà còn phải phân định trước những chọn lựa nho nhỏ hàng ngày.  Phân định trở thành một thói quen tự nhiên làm cho cả cuộc sống được thống nhất theo một hướng.

Thiên Chúa không giấu ý muốn của Ngài đối với ta, nhưng Ngài vẫn muốn chúng ta phân định để tìm ý Ngài như một cử chỉ khiêm tốn của lòng kính trọng và yêu mến.  Hơn nữa, tìm ý Chúa cũng là hành vi mà chỉ con người có lý trí, ý chí và tự do mới làm được.  Đó là một hành vi nhân linh.  Mỗi người phải tìm ý Chúa cho cuộc đời mình.  Chẳng ai làm thay cho mình được, vì trong từng hoàn cảnh, mỗi người có những câu hỏi rất riêng tư.  Hùng tự hỏi có nên vào chủng viện khi ở nhà chỉ có người mẹ già sống một mình không?  Hương sẽ chọn ai làm chồng, anh Thắng giàu có, đạo đức, nhưng không cùng tôn giáo, còn anh Phúc thì nghèo hơn, ít đạo đức hơn, nhưng cùng tôn giáo và được lòng mẹ của Hương?  Phát được làm trong Ban giám hiệu của một trường quốc tế.  Anh suy nghĩ có nên tiếp tục làm việc ở trường này nữa không vì thấy nó quá chú tâm vào lợi nhuận?  Phát có nên ở lại trường với hy vọng từ từ mình có thể đổi được hướng đi của trường?  Duyên phải giúp cha mẹ nuôi các em.  Cô tìm được một chỗ làm lương cao để nuôi các em, nhưng cô lại không được nghỉ ngày Chúa nhật, ít có giờ đi lễ hay tham gia một nhóm sống đạo.  Duyên có nên tìm một việc khác ít lương hơn nhưng có sự thảnh thơi hơn không?

Tìm ý Chúa không phải là chọn giữa một điều tốt và một điều là tội.  Thánh Inhaxiô Loyola nhắc chúng ta không được phép chọn một điều xấu hay ngược với giáo lý của Hội Thánh (Linh Thao số 170).  Thí dụ không được lấy một người đã lập gia đình và vẫn đang sống với người phối ngẫu; không được ly dị người bạn đời của mình để lấy người khác; không được phá thai…  Tìm ý Chúa là tìm xem Chúa muốn tôi làm điều nào giữa hai (hay nhiều điều) được phép làm.  Giữa hai điều tốt, tôi chọn điều tốt hơn mà tôi biết mình có thể làm được nhờ ơn Chúa.

Ngay cả khi đã biết ý Chúa, chúng ta cũng sẽ phải trả lời nhiều câu hỏi cụ thể hơn.  Thí dụ, bác sĩ Phong mới ra trường, phải suy nghĩ xem Chúa muốn mình phục vụ ở vùng quê hay ở thành phố.  Nếu về vùng quê thì có nhiều cơ hội giúp người nghèo, nhưng đời sống vật chất của mình và sự thăng tiến trong nghề sẽ ra sao?

Một bạn trẻ quyết định đi Mùa Hè Xanh cũng phải phân định để tìm ý Chúa.  Nên đi khi nào?  Địa điểm nào cần sự hiện diện của tôi hơn?  Tôi sẽ làm gì khi đến đó?  Tôi sẽ ở đó bao lâu?  Có câu trả lời chỉ tìm ra được khi đến nơi mình phục vụ.  Ánh sáng của Chúa đến với tôi qua thực tế tôi đang trải nghiệm.  Nếu tôi còn nhiều môn phải thi lại hay tôi còn phải hoàn tất bài luận văn ra trường, thì năm nay tôi có nên đi Mùa Hè Xanh, hay chỉ đi một tuần thôi?

Nói chung, hàng ngày ai cũng phải đối diện với những chọn lựa.  Trước đây, trên đường lên Đà Lạt, có ngôi nhà thờ căng một tấm bảng lớn có ghi câu: Sống là Chọn.  Mà chọn thì phải bỏ.  Bỏ nhiều khi làm tôi thấy mình bị giằng co, xâu xé, tiếc nuối, đau đớn.  Tôi không thể nào chọn mọi sự, vì tôi không thể nào làm hết mọi sự, dù lòng tôi có tốt đến đâu.  Tôi không thể vừa muốn đi tu, vừa muốn tiếp tục nuôi dưỡng mối tình với người ấy.  Tôi không thể lập gia đình với hai người, dù tôi đã có nhiều kỷ niệm với cả hai, dù mỗi người đều có những nét riêng làm tôi ngưỡng mộ.  Chấp nhận chọn là chấp nhận có thể bị tổn thương, ít là lúc đầu.  Không muốn chịu tổn thương thì cũng không chạm đến chọn lựa một cách triệt để.

Thường thường người ta chọn lựa dựa theo cái tôi của mình.  Cái tôi của tôi là trung tâm.  Tôi chọn điều tôi thích.  Tôi chọn điều đem lại cái lợi cho tôi: tiếng tăm, tiền bạc, khoái lạc, quyền lực…  Tôi chọn điều đem lại cái lợi cho đất nước tôi, cho gia đình tôi, cho những người thân của tôi, cho tổ chức hay nhóm của tôi, dù cái lợi ấy gây hại cho nước khác hay người khác.  Khi đọc báo hàng ngày, chúng ta thấy nhiều người đã chọn theo kiểu ấy, vì thế biết bao thảm kịch đã xảy ra khắp nơi trên toàn cầu: chiến tranh, xung đột, giết chóc, bất công, tham nhũng, dối trá, bóc lột, áp bức, kỳ thị, hố sâu giữa người giàu người nghèo…  Mọi nỗi khổ đau của nhân loại đến từ những chọn lựa quy về cái tôi và những gì là của tôi.  Khi cái tôi trở thành tiêu chuẩn để chọn lựa, thì tôi không thể nghĩ đến người khác, không thể tôn trọng quyền lợi của họ.

Như thế để làm một lựa chọn đúng đắn, tôi phải được giải phóng khỏi cái tôi ích kỷ.  Tôi không bị nô lệ cho cái tôi đầy thèm muốn chiếm đoạt của mình.  Dĩ nhiên là tôi phải yêu tôi, nhưng tôi lại không phải là trung tâm để mọi sự, mọi người phải quy hướng vào đó.  Trung tâm của tôi phải ở ngoài tôi, phải ở trên tôi.  Đối với một Kitô hữu, trung tâm của tôi là Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, nhờ Đấng ấy mà tôi hiện hữu trên đời này.  Mọi chọn lựa của tôi phải quy về Đấng ấy.

Các nhà luân lý nói đến việc mỗi người cần xác định đâu là lựa chọn căn bản của đời mình (fundamental option).  Tôi chọn tôi hay chọn Thiên Chúa?  Tôi chọn tôi hay chọn tha nhân?  Lựa chọn căn bản này sẽ chi phối mọi lựa chọn nhỏ khác của đời tôi.

(Còn tiếp)

Nguyễn Cao Siêu, S.J.
Nguồn: https://dongten.net